31 tháng 3, 2018

Xin Một Ngày Mai Có Nhau







.
.

Hết thảy “Duyên” trên đời đều là để trả một chữ “Nợ”

         Duyên phận mang mọi người đến gần nhau hơn. Nhờ vào cái duyên mà người ta được gặp nhau, trở thành bạn bè, đồng nghiệp, bạn thân, tri kỷ. Tuy nhiên, hết thảy duyên trên đời, đều là vì để trả một chữ “nợ”.
         Không ai là vô duyên vô cớ xuất hiện trong cuộc đời của bạn cả, sự xuất hiện của mỗi người đều có nguyên do.


Nhân sinh ngắn ngủi, gặp nhau hẳn là có duyên
         Sống trên đời này, được sống cùng người thân, được học hành cùng bạn bè, được làm việc cùng đồng nghiệp, được cùng chung sống với phu thê, âu cũng là duyên số. Ta được cha mẹ sinh ra, được lớn lên cùng anh chị em đã là một cái duyên rồi. Nó khiến ta gặp họ, đúng hơn thì nhờ có duyên, mà cha mẹ ta sinh ra ta.
         Được nên duyên vợ chồng với nhau lại là một duyên số lớn hơn. Duyên khiến ta gặp nhau, đem lòng yêu mến nhau. Rồi cái duyên đó nuôi lớn tình yêu của ta. Nó lớn dần và trở thành duyên chồng vợ. Người ta nói “tu trăm năm được ngồi chung thuyền, tu nghìn năm mới cùng chăn gối”. Được ngồi chung thuyền với nhau đã là một cái duyên rồi, phải tu trăm năm mới có được cái duyên đó. Tu nghìn năm thì cái duyên đó mới nên duyên chồng vợ. Được sống cùng nhau, trải qua vui buồn cùng nhau, đó đã là một cái duyên vô cùng lớn.
         Thế gian này, sở dĩ gặp được nhau đều là có nguyên nhân. Mỗi một lần gặp gỡ, đều là để hoàn thành một tâm nguyện. Có lẽ, tình duyên kiếp trước chưa trọn vẹn, cho nên, kiếp này lại có thể gặp gỡ. Hết thảy những tương kiến, đều là vì còn thiếu nợ.
         Một lần gặp gỡ, nhưng có thể phải đợi hơn một ngàn năm, là kết quả quả kiếp trước 500 lần ngoái đầu nhìn lại, là mấy đời tu hành mới đổi lấy được phúc duyên kiếp này.


Duyên sâu duyên cạn, đều nằm ở chỗ thiếu nợ bao nhiêu.
         Duyên sâu duyên cạn, đều nằm ở chỗ thiếu nợ bao nhiêu. Thiếu nợ nhiều, thì sẽ làm bạn lâu hơn; thiếu nợ ít, thì sẽ ở chung một thời gian ngắn…
         Nhân sinh ngắn ngủi mấy mươi năm, cả đời có thể gặp được bao nhiêu người? Trong dòng đời chảy trôi, người đến người đi đều không hề ngẫu nhiên. Có người chỉ gặp thoáng qua, bởi kiếp trước đã không còn mắc nợ điều gì; có người cả đời ở bên cạnh, kỳ thực đều vì có món nợ chưa thể hoàn trả xong.
         Kiếp trước trí nhớ của bạn bị xóa đi, kiếp sau bạn chính là một con người hoàn toàn mới. Con người khi đã uống nước vong tình, thì những sự tình kiếp trước thảy đều được thanh tẩy sạch sẽ, chỉ còn lại duyên phận giữa người với người được ẩn giấu bên trong, bị dẫn dắt, chuyển dời đến kiếp này.

Kiếp này sở dĩ gặp nhau, đều là vì trả nợ…
         Không ai là vô duyên vô cớ xuất hiện trong cuộc đời của bạn cả, sự xuất hiện của mỗi người đều có nguyên do của nó, nhưng đều đáng được cảm kích.
Mọi thứ bắt đầu từ duyên phận, kết thúc cũng lại do duyên phận. Kiếp này là thân nhân của nhau, chính là để đem thân tình để đền bù; là bằng hữu của nhau, thì đem hữu nghị để hoàn lại; là người yêu của nhau, thì đem tình yêu để bổ khuyết cho vẹn toàn.
         Kiếp trước không nợ, kiếp này không gặp. Kiếp này tương kiến, đều là vì để trả món nợ cho xong. Vậy nên, dù thế nào cũng hãy quý trọng mỗi người gặp ở trên đời, bởi đó chính là nhân duyên tiền kiếp của bạn; trân quý người bên cạnh, bởi giữa hai người vẫn còn một món nợ chưa hoàn tất.

         Tuệ Tâm


Niềm tin



          Dường như tất cả mọi người đều sống và trở nên cảnh giác quá nhiều, khi họ không thể đặt niềm tin để bấu víu vào bất cứ ai, bất cứ thứ gì tồn tại xung quanh mình.
          Hóa ra, chọn lựa tin tưởng một ai đó lại là một việc khó khăn đến thế. Có lẽ bởi cảm giác nghi kỵ vốn đóng rễ trong lòng từ rất lâu, nên sinh ra cảnh giác thật nhiều. Lúc nào cũng tự đương đầu một mình, tự chống đỡ một mình, đến khi mệt mỏi, muốn tìm chỗ dựa cũng không thể toàn tâm toàn ý mà tin tưởng, dựa vào mà không một gợn lăn tăn lo lắng.
          Khi con người ta luôn luôn ở vào trong trạng thái thiếu cảm giác an toàn, họ phải luyện tập cho mình chỉ được tin tưởng vào bản thân. Sợ hãi cho rằng chỉ cần bị phản bội một lần nữa thôi, có thể sẽ bị suy sụp, sẽ bị đổ gục, chứ không cứng cỏi đứng dậy được mạnh mẽ như bây giờ được nữa. Vẫn biết nhiều chuyện chỉ có thể nhắm mắt đưa chân, nhưng không tài nào bước nổi. Thà từ bỏ một lần cơ hội, còn hơn phải do dự, bất an.
          Có ai đó đã từng nói, niềm tin là thứ xa xỉ nhất trên đời, nhưng để có được nó lại không khó, chỉ cần đủ chân thành. Tôi thì lại không nghĩ như vậy. Niềm tin là cả một quá trình thấu hiểu, chia sẻ, cảm thông  rồi thành thật qua lại lẫn nhau, từ đó mới sinh ra. Bạn không thể tùy tiện tin tưởng bất cứ ai, càng không thể bỗng dưng nhìn thấy một người để sau đó đặt toàn bộ niềm tin vào họ.

          Niềm tin làm sao có được, khi mà ngày ngày con người ta vẫn giả dối với nhau, đeo biết bao nhiêu lớp mặt nạ rồi cười cười nói nói, thậm chí chỉ cần quay đi là ngay lập tức chuyển một khuôn mặt khác, với một lớp mặt nạ khác.
          Niềm tin làm sao có được, khi mà người ta vốn đã quá quen với việc lừa dối nhau, chỉ cần hở ra là biện bạch, chỉ cần sẩy một chân là trí trá. Chẳng cần nghĩ tới cảm nhận của người khác, chỉ chăm chăm giữ lại lợi ích của bản thân.
Niềm tin làm sao có được, khi mà người ta sau những lần vạch trần, thất vọng, trông thấy sự thật quá phũ phàng mà thành ra cảnh giác, nghi ngờ hoặc chẳng còn dũng khí để tin bất cứ ai.
          Niềm tin làm sao mà có được, khi người ta có sống thật với nhau đâu?
Chỉ là trong một giây phút nào đấy thấy lòng nặng trĩu, nhìn quanh quất mãi cũng chẳng tìm thấy một ai. Cảm giác chơ vơ giữa dòng người rộng lớn đủ để hóa thành sự đơn độc giết chết mọi thứ cảm giác. Nhiều lúc bên cạnh có thật nhiều người mà không thể có một người để gửi gắm niềm tin nương tựa, chỉ biết ngoảnh mặt đi, tự vỗ về để mong tâm trạng chóng vánh mau qua.
          Vậy thì, muốn đừng cô độc, hãy biết tin tưởng. Và trước khi biết tin tưởng, cần học cách làm người khác tin tưởng. Để chỉ cần có niềm tin bên cạnh là không còn cảm giác đơn độc.



.


4 Thứ Không Được Nợ, Dù Là Người Thân



1. Không nên nợ tiền bạc
          Chúng ta vẫn hay nói: Đã là anh em người nhà thì không nên phân biệt của anh của tôi, như vậy mới chứng tỏ được tình cảm thân thiết. Song bên cạnh đó là kinh nghiệm của người xưa: Anh em ruột thịt cũng phải tiền bạc phân minh để tránh sứt mẻ tình cảm.
          Giữa anh em người thân thực ra đôi khi không thể rõ ràng về tài chính. Tuy là như vậy, nhưng có những khoản cần sòng phẳng, nên trả thì nhất định phải trả đúng lúc. Có như vậy mới giữ được tình cảm bền lâu.
          Bạn đừng nghĩ sòng phẳng quá sẽ khiến anh em mất vui, ngược lại, nếu bạn không rõ ràng minh bạch mới tạo cho đối phương tâm lí không thoải mái.
          Cho nên đã là người thân, hoặc là có thể đối xử với nhau như tích Khổng Dung nhường lê (là tác phẩm có tính giáo dục cao); nếu không, tốt nhất hãy rạch ròi các món nợ tiền bạc với anh em người thân.

2. Không nợ ai món nợ trách nhiệm
          Cuộc sống chúng ta đang sống giống như một vở kịch lớn, mà trong vở kịch đó mỗi người đảm nhận một vai diễn khác nhau như là bố, là mẹ, là anh, là chị, là em, là con, là cháu….Và từng vai diễn lại có những nghĩa vụ và trách nhiệm khác nhau.
          Ví dụ là một người con bạn phải có trách nhiệm hiếu kính, chăm sóc ông bà, cha mẹ, những người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng bạn, tuyệt đối không được rũ bỏ trách nhiệm này hay nói cách khác đó là món nợ trách nhiệm của người làm con đối với bậc sinh thành mà bạn cần phải trả.
          Nếu bạn là người cha người mẹ thì trách nhiệm của bạn chính là nuôi dưỡng, giáo dục cũng như định hướng tư tưởng cho con mình, để con cái trưởng thành trong môi trường tốt, nhận được nền giáo dục văn minh.
          Nếu là vợ chồng, bạn phải có trách nhiệm thủy chung, tôn trọng đối phương, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống. Người ta nói phải tu ngàn năm mới có duyên làm vợ chồng, cho nên đừng nợ chồng hay vợ bạn sự chân thành và khoan dung.
          Và, nếu là anh chị em ruột thịt trong một nhà, món nợ bạn phải nhớ là hãy sống có trách nhiệm yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ anh chị em.


3. Món nợ ân tình
          Giữa bạn bè với nhau tốt nhất không nên vướng vào món nợ ân tình, đặc biệt nếu là người thân thì lại càng không nên.
          Bạn có thể sẽ hoài nghi, đã là người thân thì sao tránh được nợ nhau tình cảm. Bởi lẽ thường người một nhà vẫn hay tình nguyện làm gì đó cho nhau, giúp đỡ nhau mà không đòi hỏi yêu cầu hay đền đáp. Nhưng chính vì lẽ đó mà chúng ta càng nên tỉnh táo để sống một cách trọn vẹn với lương tâm. Người giúp ta một thì ta phải trả một hoặc gấp đôi, thậm chí là hơn nữa.
          Tuy là thế nhưng có những ân tình mà có khi cả đời này chúng ta không thể báo đáp. Ngay trước mắt đó chính là công ơn sinh thành, dưỡng dục của mẹ cha. Vậy thì hãy không ngừng cố gắng, hãy làm tất cả những gì có thể để báo đáp cho cha mẹ.
          Ngoài ra khi sống trên đời này chúng ta phải có lòng biết ơn, lòng lương thiện để mang ngọn lửa của tình yêu truyền đi khắp nơi. Nếu mỗi người có thể làm như vậy, thế giới này sẽ trở nên đẹp đẽ gấp bội.

4. Không nên lãng phí thời gian
          Người thân bên cạnh chúng ta không bao giờ yêu cầu chúng ta phải có sự thành công to lớn, mà đơn giản chỉ cần mọi thành viên trong gia đình luôn đùm bọc, yêu thương lẫn nhau, vui vẻ, khỏe mạnh. Đó chính là hạnh phúc chứ không phải là có nhiều tiền, nhà lầu xe hơi hay mỗi ngày được ăn sơn hào hải vị.
          Vì thế hãy trân trọng từng giây từng phút quý giá bên người thân để yêu thương và chăm sóc họ. Đừng đợi đến khi người thân không còn nữa mới cảm thấy hối hận ăn năn
          Nếu có thể không nợ người thân những điều kể trên, thì có lẽ như vậy gia đình sẽ càng êm ấm thuận hoà. Đó cũng chính là nền móng vững vàng cho hai từ “hạnh phúc”.


.


.

Chuyện Nồi Cơm Của Khổng Tử


Trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành 
mà vẫn không hiểu được đúng sự thật.


          Một ngày kia Khổng Tử đang đi trên đường cùng với các môn sinh đi du thuyết từ nước Lỗ sang nước Tề. Gặp lúc nước Tề đang mất mùa vì hạn hán và dân chúng bị đói khổ cùng cực khắp nơi. Về phần thầy trò Khổng Tử cũng phải ăn trừ cơm bằng những củ khoai mì, măng tre hay bất cứ thứ đồ ăn gì kiếm được. Một hôm thầy trò Khổng Tử được một người đem đến biếu một ít gạo, đủ để nấu một nồi cơm, Thầy trò Khổng Tử đều tỏ ra phấn khởi vì đã nhịn đói lâu ngày. Bấy giờ Tử Lộ có nhiệm vụ dẫn anh em vào rừng hái rau, còn Nhan Hồi thì được phân công ở nhà nấu cơm.  Khổng Tử lúc đó đang nằm đọc sách ở nhà trên, bỗng nghe thấy có tiếng "cộp" từ bếp vọng lên. Khổng Tử tò mò nhìn xuống dưới bếp thì nhìn thấy Nhan Hồi đang dùng đũa lấy cơm trong nồi ra, để lên tay và nắm lại từng nắm nhỏ. Sau đó nhìn trước nhìn sau không thấy ai, anh ta đậy nắp nồi lại rồi đưa từng nắm cơm vào miệng nuốt lấy nuốt để. Nhìn thấy mọi cử chỉ của Nhan Hồi Khổng Tử chỉ biết lắc đầu thở dài và ngửa mặt lên trời than rằng !

         "Ôi chao, học trò bậc nhất của ta mà lại ăn vụng hèn hạ như vậy sao ? Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nơi hắn thì bây giờ đã tan thành mây khói hết".

          Khi bữa ăn đã dọn xong và thầy trò đều ngồi vào bàn thì Khổng Tử lớn tiếng hỏi các học trò xem mình có nên lấy một bát cơm để cúng cha mẹ hay không ? Mọi người đều cho là phải, duy chỉ có mình Nhan Hồi là không đồng ý. Khi được hỏi lý do, thì anh ta cho biết như sau: "Thưa Thầy, con nghĩ là không nên cúng, vì trong lúc mở vung ra xem cơm trong nồi đã chín đều chưa, thì tự nhiên cơn gió mạnh thổi đến, làm cho bụi bặm và bồ hóng ở trên gác bếp rơi xuống. Con vội đậy vung lại nhưng vẫn không kịp, cơm trong nồi đã có đầy bụi ở mặt trên. Sau đó con dùng đũa lấy ra lớp cơm bẩn định sẽ đem vất đi. Nhưng rồi con lại nghĩ rằng: Thầy trò ta lâu không được ăn cơm. Mà số cơm bẩn lại nhiều tương đương với phần ăn của một người. Do đó con đã mạn phép thầy và các anh em để ăn trước phần cơm bẩn ấy. Thưa Thầy, thế là hôm nay con đã được ăn rồi và bây giờ con chỉ ăn thêm phần rau thôi. Vừa nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời than rằng :

          "Ôi chao ! Thế là trên đời này cũng có những sự việc chính mắt ta trông thấy tỏ tường mà vẫn không biết rõ thực hư ! Suýt nữa ta trở thành một kẻ xét đoán hồ đồ và bất công rồi".




.

Cơ hội trong nghịch cảnh

.

          Trước đây, có hai người đói khát nhận được ân huệ của một mạnh thường quân: Một chiếc cần câu và một mớ cá tươi rói. Một người nhận cá, một người nhận cần câu, nhận xong đường ai nấy đi.
          Người nhận được cá nhanh chóng tìm củi khô, đốt nến rồi đưa cá vào nướng. Cá vừa chín, anh ta ăn ngấu nghiến, nhanh đến mức chẳng kịp tận hưởng hương vị thơm ngon của món ăn, đồ ăn đã hết sạch. Không lâu sau đó, anh ta chết đói bên đống xương cá.
          Trong đi đó, người nhận cần câu tiếp tục chịu đựng đói khát, lê từng bước khó nhọc đến bờ biển.Thế nhưng khi lờ mờ nhìn thấy mặt biển xanh ở xa, đó cũng là lúc chút sinh lực cuối cùng trong người cũng cạn kiệt. Anh ta chỉ còn biết mở to mắt, buông tay từ biệt thế gian trong nỗi tiếc nuối vô hạn.

          Lại có hai người cơ hàn khác, cũng nhận được ân huệ tương tự từ một nhà hảo tâm. Tuy nhiên, không giống như hai người trước, sau khi nhận đồ cứu tế, họ không tách nhau ra mà thoải thuận cùng nhau tìm ra bờ biển, mỗi lần đói chỉ nướng một con cá để cầm hơi.
          Cuối cùng, cả hai cũng tìm được bờ biển và kể từ đó, họ cùng nhau câu cá mưu sinh. Vài năm sau, họ cùng xây được nhà, mỗi người sở hữu một căn nhà riêng, cưới vợ sinh con, làm được thuyền lớn ra biển đánh bắt, cuộc sống hạnh phúc an khang.
          Mỗi một con người nếu chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt, phần thưởng giành được chỉ là niềm vui ngắn ngủi. Nhưng dù một người có mục tiêu to lớn đi chẳng nữa, cái anh ta phải đối mặt vẫn là hiện thực cuộc sống.
          Chỉ có cách kết hợp nhịp nhàng giữa lý tưởng và hiện thực cuộc sống, con người mới có thể thành công. Đôi khi, một đạo lý đơn giản nhưng có thể mang đến cho con người lời gợi ý sâu sắc. 





Tha thứ

         Chuyện xưa kể rằng, Sở Trang Vương một hôm cho bày yến tiệc thết đãi các đại thần. Trong tiệc, gió lớn nổi lên bỗng thổi tắt hết đèn nến. Khi ấy, một quan viên lợi dụng đêm tối kéo áo chọc ghẹo cung nữ của nhà vua. Người cung nữ ấy giật đứt giải mũ của ông này rồi tâu lên Sở Trang Vương, muốn thắp đèn nến lên, tìm xem ai là người đã chọc ghẹo mình và xử tội. Nhưng Sở Trang Vương gạt đi và tuyên bố: “Hôm nay các khanh uống rượu cùng ta mà không say đến đứt giải mũ thì chưa phải là thực bụng vui vậy!”. Thế là các đại thần văn võ đều giật đứt giải mũ của mình. Nhân thế mà người trêu ghẹo cung nữ kia không bị lộ mặt nữa.



         Hai năm sau, nước Sở đánh nhau to với nước Tấn. Qua năm trận kịch chiến, quân Sở có một võ tướng liều mình, tả xung hữu đột, không màng sống chết, luôn đi tiên phong. Quân Sở nhờ vậy thắng luôn. Sau này Sở Trang Vương lấy làm lạ, bèn cho gọi đến hỏi ngọn ngành. Người ấy bèn thưa: “Thần chịu nghĩa xưa, đội ơn dày của bệ hạ đã tha cho tội khi quân. Vốn mong muốn liều chết để báo đền ân đức bệ hạ, đến nay thần mới có dịp. Thần là Tưởng Hùng, là người năm xưa trêu ghẹo cung nữ của bệ hạ trong tiệc rượu”.
         Sở Trang Vương quả thực có lòng hào hiệp, bụng dạ cũng không chút hẹp hòi, nhỏ nhen. Nếu không tha thứ cho Tưởng Hùng lỗi lầm trên bàn rượu đêm hôm ấy thử hỏi lấy ai là kẻ tiên phong, xông vào mũi tên hòn đạn mà chiến đấu hết mình cho ông đây?
         Tha thứ không phải là ban phát ân huệ cho kẻ khác. Tha thứ chính là món quà cho tâm hồn của chính chúng ta
         Tha thứ không khó, cái khó chính là người ta có dám buông bỏ tâm hận thù, oán giận hay không. Hận thù bản thân là một con quỷ dữ. Nếu bạn cứ mãi ôm giữ nó trong tâm, chẳng phải là càng tiếp thêm năng lượng và sự sống cho nó. Đến một ngày kia, nó sẽ quay trở lại nuốt chửng bạn. Chuyện này nguy hiểm là thế. Vậy nên bạn hãy luôn ghi nhớ rằng:

         Tha thứ là dòng suối nguồn tưới mát ngọn lửa hận thù thiêu cháy tâm can.
Không thể mở rộng tấm lòng dung nạp người khác, khẳng định là bạn cũng không thể thành công trên đường đời.
         Cái gốc của tha thứ chính là tâm từ bi, thiện lương. Để có thể tha thứ cho người khác dễ dàng hơn, phải chăng bạn luôn nên nuôi dưỡng cho mình một tấm lòng lương thiện, nhân hậu?
         Như thế mới thực là:

“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)


.

30 tháng 3, 2018

Tình Yêu Thương

          Từ ngày hôm ấy, nhà Hương có thêm một khuôn mặt mới. Đối với tất cả mọi người trong nhà, trừ Hương và cậu con trai lớn, khuôn mặt mới này cũng chỉ như một món đồ vừa được mua về ở tiệm, bầy đó, lấp một khoảng trống nào đó mà thôi. Ai vậy? Một chú két có màu xanh lá cây với những đường viền đỏ cam, vàng rực rỡ với đôi mắt sáng quắc tròn xoe, cái mỏ dài ngoằng hơi khoằm khoằm và một bên bàn chân bị khuyết tật! 
          -“Tại sao con lại mua một con két có tật như vậy hả Duy?”
            Đứa con trai lớn của Hương nhún vai cười:
           -“Có sao đâu mẹ? Nó vẫn đứng, vẫn bay bình thường như mọi con két khác trong khi nó đẹp nhất trong lồng mà lại rẻ và biết nói sẵn nữa, con khỏi phải “train” nó!” 


          Nàng vẫn cứ thắc mắc về một bên ngón chân bị cụt đến gần 2 đốt của con két tên Joshua mà Duy vừa mua về. Hương giao hẹn với con trai:
           -“Con chơi, con phải 'take care' nó đó!”
    
       -“Mẹ đừng lo! Con lo cho nó mà!” 
           -“Tại sao con biết là nó biết nói sẵn? Nó nói tiếng gì?”
           -“Chủ nó là một bà Mỹ, vậy chắc nó chỉ biết tiếng Mỹ!” 

     
     Duy lại nhìn mẹ cười, nụ cười của cậu thanh niên mới lớn thật tươi và thật dễ mến. 
         -“Bà ta già phải vào nursing home nên mới gửi tiệm bán. Con mua rẻ lắm!” 

          Hương không nói gì mà chỉ lo con két làm bẩn nhà. Duy nhốt Joshua trong phòng ngủ và căn dặn mẹ cùng mọi người trong nhà đừng mở cửa phòng sợ Joshua bay mất. Nhốt nó vào lồng thì nó không chịu, nó sẽ chết! Hương than thầm trong bụng:
 “Tại sao nó không chơi con gì khác cho sạch sẽ, dễ trông coi!” Nên ngay từ phút đầu Joshua có mang lại sự chú ý của Hương, nhưng thiện cảm thì không!  Nhưng chiều con, nàng cũng không cằn nhằn thêm. 

         Bắt đầu từ ngày đó trở đi trong nhà nàng lại có một “tù nhân” là con két xanh tên Joshua. Cửa phòng Duy lúc nào cũng khép trừ lúc có ai trong phòng. Cả nhà cũng chẳng mấy khi thấy mặt con Joshua, nên nó có đó mà cũng như không có. Thỉnh thoảng Hương mới thấy nó kêu chứ chưa hề thấy Joshua nói! Nhiều lần nàng định hỏi con xem con két đã nói những gì rồi thương hại Duy lại thôi. 

          Một hôm, Hương mở cửa vào phòng Duy. Con Joshua đang đứng trên thanh gỗ ngang. Đó là một loại chuồng chim nhưng trống cả bốn phía và chỉ đơn sơ có một thanh ngang làm chỗ đứng suốt ngày đêm cho Joshua, hai đầu một bên là thức ăn, một bên là nước uống. Bên dưới có một khay tròn lớn đựng cát để hứng mọi thứ chất dơ do Joshua thải ra. Thấy nàng bỗng nhiên Joshua xòe rộng hai cánh, vươn người lên nhún nhẩy và huýt gió.
          Duy la lên:
         -“Mẹ thấy không, nó huýt gió đấy! Hễ thấy đàn bà, con gái là nó huýt gió! Nó thích mẹ đấy!”
         Hương phì cười, nghĩ bụng " Nói thì không nói mà chỉ huýt gió!" Nàng đến gần, ngắm nghía chú két. Một mối thiện cảm nào đó nẩy sinh. Nàng nghiêng đầu nhìn nó. Nó cũng ngoẹo đầu nhìn Hương như muốn nói một cái gì? Hương bắt đầu chú ý đến sự có mặt của Joshua trong nhà. Từ hôm ấy, mỗi tối, nàng đều vào phòng Duy, ngồi bệt xuống thảm, gần chỗ con Joshua, và thử dậy nó nói vài chữ tiếng .. Việt.
 
          Vài tháng trôi đi, một chữ tiếng Anh Joshua cũng không nói chứ đừng hòng gì đến nửa chữ tiếng Việt! Nhưng cứ mỗi lần thấy Hương là nó huýt sáo và vươn cánh làm đẹp. Nàng cũng thấy vui vui và dần dà quên mất đến chuyện là con két này không biết nói và đành chấp nhận nó như thế! 

          Duy đi mua một lô sách về nghiên cứu và tuyên bố với mẹ:
         -“Joshua chắc bị “shock” nặng nên nó không nói nữa!”
         Và rồi câu chuyện của chú két xanh Joshua tưởng chỉ có vậy! 

         Cho đến một hôm, Hương đến tiệm Pet Shop, nơi mà Duy đã mua con két, để mua thức ăn cho Joshua. Bà chủ tiệm là người Việt, rất niềm nở khi thấy người đồng hương. Bà ta chỉ dẫn cặn kẽ loại thức ăn nào hợp cho két, nuôi dưỡng ra sao...
        Trong câu chuyện trao đổi, Hương chợt hỏi:
        -“Thường những con bà bán ra mà có giấy tờ khai sinh, bà có lưu lại bản nào không?”
        - “Có chứ ạ! Chúng tôi còn giữ lại tên và địa chỉ người bán, người mua, đủ hết”
        -“Cháu trai của tôi mua một con két ở đây tên Joshua, chân nó hơi có tật..”
          Bà chủ tiệm nói ngay không đợi Hương nói thêm:
        -“Joshua! Tôi nhớ chứ! Một bà già Mỹ đã nhờ tôi bán khi bà ta phải vào nursing home. À! Cậu đó là con bà đấy ư?”
         -“Vâng, đúng đấy! Bà có trí nhớ tốt quá!”
         -“Cậu con bà có thích con Joshua không?”
         -“Chúng tôi quý nó lắm..có điều sao nó chẳng biết nói gì cả?”
         -“Có trường hợp như vậy xảy ra khi con vật bị sống xa chủ nhân của nó. Nhưng nhiều khi chỉ một thời gian nó quen với môi trường mới lại nói như két ngay ấy mà!”
          Hương chép miệng:
         -“Cả hơn một năm rồi, đâu thấy nó nói gì đâu! Nó chỉ biết huýt sáo và kêu thôi!”
          Bà chủ tiệm nhún vai, không biết phải trả lời thế nào trước sự than phiền của người khách. 

         Hương trả tiền đi ra, nhưng nghĩ sao nàng lại quay trở lại tìm người chủ tiệm:
         -“Bà có địa chỉ của bà cụ già trong nursing home, chủ trước của Joshua không?”
         -“Có chứ, để tôi lấy! Trừ phi bà ấy chết hay đổi chỗ thì chịu thua!”
    Bà ta tìm một lúc rồi mặt tươi lên, hí hoáy viết vào tờ giấy đưa cho Hương:
         -“Chúc bà may mắn!”
          Cầm tờ giấy trong tay Hương không biết mình sẽ làm gì? Vào gặp và thăm bà lão, nói chuyện về con két tên Joshua hay đưa Joshua vào thăm chủ cũ? Để làm gì? Nàng cũng chẳng hiểu tại sao những ý nghĩ đó lại đến trong đầu và rồi cứ lẩn quẩn ngày này sang ngày khác.
 
          Một ngày Chủ Nhật cuối tuần, Hương và Joshua tìm đường vào nursing home mang tên là Pine Haven.   Chưa bao giờ đặt chân vào một nursing home nào cả nên Hương cũng hơi tò mò. Nơi đây dù không xa nhà thương Memorial bao nhiêu nhưng nằm khuất trong một con đường cụt yên tĩnh rộng rãi, nhiều cây cối bao bọc chung quanh, có cả vườn cảnh cho người đi dạo tạo một cảm giác thật an bình.
          Hương nhìn xuống tờ giấy, lẩm nhẩm tên bà lão:
         -“Alice Park! Alice ..Park!”
Joshua đậu trên vai Hương có vẻ thích thú khi được ra ngoài. Nó kêu những tiếng trong cổ họng nhịp theo với bước chân Hương tiến dần vào khuôn viên nursing home.

         Một vài người già ngồi trên xe lăn, phía sau có y tá đẩy. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Hương là những khuôn mặt già nua bệnh hoạn, bạc thếch theo với thời gian! Những khuôn mặt trắng nhờ nhờ với làn da trắng xanh không còn sinh khí, hay những gương mặt da màu đã sạm lại và teo tóp!
         Những đôi mắt u uẩn, hay những cái nhìn mông lung vào một cõi nào xa xăm! Như thể tất cả đang sống trong một thế giơi riêng biệt, mà những ngôn từ; động tác cử động cũng theo một cách thế khác. Nhịp sống nơi đây, chắc chắn không giống như nhịp sống bên ngoài kia!!!
         Người nữ tiếp viên ngồi ngay cửa vào, ngửng lên nhìn Hương  mỉm cười chào hỏi. Hương hỏi ngay:
         -“Tôi muốn vào thăm bà Alice Park. Chẳng hay bà ấy ở phòng số bao nhiêu hả cô?”
         Cô gái cắm cúi giở sổ tìm rồi nhoẻn miệng cười thật xinh:
          -“Dẫy A. Phòng số 210. Bà đi thẳng vào trong, rồi quẹo trái; đến gần cuối hành lang là đúng chỗ đấy.”
         -“Cám ơn cô nhé!”
           Cô gái nở nụ cười thay cho lời nói. Joshua bỗng huýt gió vang dội, làm cả Hương lẫn cô gái phải bật cười.
          -“Nó tên gì vậy bà?”
          -“Joshua!”
          -“Hi Hoshua! Hi!”
           Joshua chỉ nhìn cô gái và tiếp tục huýt sáo một cách thích thú! Cô ta còn giơ tay vẫy vẫy nó. Hương lại nhớ đến lời Duy bảo:
        -”Nó thích đàn bà, con gái Mẹ à!” Mà có lẽ thế thật! 




           Nàng và Joshua theo lời chỉ dẫn của cô gái. Bên trong cũng đẹp đẽ, sạch sẽ nhưng thoang thoảng mùi hôi, mùi khai quyện lấy mùi thuốc sát trùng! Dọc hành lang, bóng những cô y tá lên xuống nườm nượp. Đi ngang những căn phòng mở rộng cửa. Hương nhìn thấy những khổ ải của thân phận con người, mà bệnh hoạn là một trong những thứ làm biến đổi người ta nhanh nhất!!!
           Không giống nhà thương, mỗi phòng được trang trí một cách khác, theo với ý thích của người bệnh hay người thân. Hương đi rất chậm để quan sát. Đầu giường những người bệnh hầu như đều có hình ảnh của một cuộc đời bên ngoài kia, mà đã có một lần họ đã sống qua! Chút kỷ niệm hay chỉ là một nhắc nhở về mối liên hệ sao đó, để người bệnh đỡ thấy lẻ loi, cô- độc chăng???
           Rẽ sang mé trái, Hương thấy ít y tá hơn và mùi hôi cũng giảm đi nhiều, hầu như không thấy mấy. Hương lẩm nhẩm trong đầu tìm số 210. “À! Đây rồi!”, nàng nhủ thầm. Phòng số 210 cũng không khác những phòng kia bao nhiêu, và theo bảng tên ở ngoài thì bà Alice Park nằm bên mé trong, sau tấm màn kéo màu xanh nhạt. Giường bên ngoài không thấy người dù rất nhiều đồ đạc. Hương vào bên trong. 

           Đằng sau tấm màn, một bà lão tóc trắng phau, uốn quăn thưa thớt, đang ngồi dựa soải chân trên một xe lăn. Hai bàn tay bà trắng bệch, và trong suốt với nhiều đường gân xanh tím chằng chịt. Cả hai bàn tay bám lấy hai thành xe lăn. Nghe tiếng động bà ta nhìn lên. Đôi mắt nhỏ xíu bỗng mở to lộ hai tròng con ngươi màu xanh đá nhạt lờ mờ như được dấu sau một bức phim mỏng. Cái miệng mỏng dính không còn thấy rõ mầu môi bỗng hơi há ra. Mắt bà ta như dán chặt vào con két trên vai Hương. Đôi bàn tay bà lão đang bám lấy thành xe lăn bỗng buông ra và run rẩy, giật liên hồi!
           Tất cả những biến chuyển đó chỉ xảy ra trong vòng vài giây ngắn ngủi của thời gian đang cô đọng trong căn phòng chật hẹp, mà Hương là người nhìn thấy rõ nhất. Nàng chưa kịp lên tiếng chào hay hỏi han xem bà lão có đúng là bà Alice Park hay không, nhưng Joshua đã nhanh hơn nàng. Nó bay sà đến đậu vào lòng bà ta và chợt kêu lên:
           -“Love ya, Mama! Love ya, Mama!” 

           Từ tiếng kêu đột ngột. Không! Phải nói là tiếng nói đột ngột thoát ra từ Joshua chợt như một tiếng ngân, mà sự vang dội cũng như cái tha thiết kéo dài run rẩy trong cái sẽ sàng làm cho sự tĩnh lặng đọng trong căn phòng chợt vỡ tan! Những đường nét cứng nhắc mỏi mệt trên khuôn mặt già nua của bà lão, dường như hồi sinh theo với cái nhếch mép, há miệng mà những tiếng nói vẫn còn bị nhốt kín sâu thẳm trong tận cùng cổ họng, hay trong sâu thẳm của trái tim héo hon? Từng thớ thịt trên mặt bà lão giật nhẹ, đôi mắt cố mở to nhìn Joshua. Môi bà lão run run, mà vẫn không tạo nên được một âm thanh nào! Chỉ có đôi mắt chớp khẽ!!!  Riềm mi dưới đã ngả sang màu xám bạc, chợt đậm màu hơn theo với giòng nước mắt đang tù từ lăn xuống!!

           Joshua hai chân bấu vào áo bà lão, vươn cổ, dùng mỏ ngoạm vào áo bà ta để trèo lên cho gần với khuôn mặt bà lão. Nó lại kêu lên, vẫn cái giọng đó:
           -“Love ya, Mama! Love ya, Mama! Joshua love ya!”
           Không hiểu trong tiếng kêu thống thiết kỳ lạ đó có gì mà Hương thấy lồng ngực mình thắt lại! Bởi vì nàng không chỉ nhìn thấy, chỉ nghe, mà còn cảm nhận được cái tình yêu giữa Joshua và chủ cũ của nó như phút chốc nàng biến thành bà lão ngồi trên xe lăn kia, cũng chẩy nước mắt đón nhận lời nói yêu thương và cũng thấy lòng rạt rào những cảm xúc kỳ dị! Làm như thế gian này, chỉ có một tình yêu và cả hai thực sự thuộc về nhau, như một nửa mảnh đời này tìm lại đúng nửa mảnh đời kia và ráp lại khít khao thành một khối duy nhất! Không có gì có thể chia lìa!!! Joshua ở trong bà lão và ngược lại. Bà lão nhìn trong Joshua và thấy tình yêu của mình. Bà ta lắp bắp đôi môi, nhưng không thành tiếng. Khuôn mặt bà lão bỗng tươi nhuận hẳn lên! Tình yêu, sự hiện diện của Joshua đã mang lại mạch sống cho bà! Và tình yêu đó tràn ngập căn phòng nhỏ. Joshua và bà Alice không còn biết đến sự có mặt của Hương.

           Joshua vùi cái mỏ cứng nhắc của nó vào cổ bà lão, mắt nó lim dim như tận hưởng một sự trao gửi thiêng liêng nào, đó mà chỉ có nó và người nhận hiểu được!!! Mãi, bà lão mới tìm lại được tiếng nói của mình. Giọng bà ta yếu ớt và thanh tao khi đưa hai tay vuốt ve Joshua: 
            -“I love you too. Joshua! Mama love you!”
           Con Joshua kêu lên những tiếng nho nhỏ trong cổ họng, và cứ để yên cho bàn tay bà lão vuốt trên từng mảng lông của nó. Những ngón tay nhăn nheo, xương xẩu kia như một cây đũa thần làm Joshua biến đổi hẳn. Nó không còn là con két xanh đứng hai chân trên thanh ngang, suốt ngày cú rũ trong căn phòng đóng kín cửa. Nó không còn là tên tù bị giam lỏng trong bốn bức tường kín ở nhà Hương. Joshua lại nói với bà lão:
           -“He hurt me!”
           Bà ta sờ lần trên ngón chân khuyết tật của Joshua như thương cảm rồi ôm Joshua vào lòng:
           -“My poor baby! He’s gone! He’ll not hurt you anymore! Not anymore baby! He’s gone, baby! Do you miss me, Joshua???”
           Joshua lập lại y hệt như vậy:
           -“Do you miss me, Joshua?”
           Bà lão bật cười:
           -“No! Do you miss me, Mama?”
           Nó lại lập lại vẫn với giọng lảnh lót:
           -“No! Do you miss me, Mama?”
           Tự dưng Hương cũng cười theo. Lúc ấy bà lão mới để ý đến sự có mặt của nàng trong phòng. Tay vẫn ôm Joshua, bà ta nheo mắt nhìn Hương:
           -“Cô mang Joshua đến đây?”
           Câu hỏi này thay cho câu hỏi:
           -“Cô là chủ mới của Joshua?”. Có lẽ bà Alice vẫn xem như chỉ có bà là chủ của Joshua. Và bất cứ ai đó đến sau bà, chỉ là người thay bà săn sóc nó mà thôi! Hương thấy ngay điều này, nên nàng chỉ mỉm cười và đáp gọn:
           -“Vâng ” 

           Hương cũng chẳng tự giới thiệu mình là ai, mà bà lão cũng chẳng hỏi tại sao nàng lại biết tìm đến đây! Tự dưng nàng cảm thấy như sự có mặt của mình ở đây là thừa thãi, nên  Hương lẳng lặng bước ra ngoài khi thấy bà Alice lại quay sang Joshua thầm thì những gì nàng nghe không rõ.
           Nàng đi dọc theo hành lang ra ngoài đến sân sau. Chẳng ai hỏi gì, mà cũng chẳng ai để ý đến ai. Hương tìm một băng ghế dưới gốc cây. Bây giờ đã là tháng Mười. Trời đã dịu hơn. Nắng vẫn rực rỡ như những ngày hè, nhưng sao lại mát hơn? Có lẽ mùa Thu đã đến ở đâu đó, và đang bứt dần những chiếc lá ra khỏi cành! Một đành đoạn chia ly tất nhiên!!! Nàng dựa lưng vào băng ghế, nhìn những chiếc lá khô lao xao trên đỉnh đầu; rồi lìa cành! Có những chiếc lá còn tiếc nuối, bay lượn vài vòng trước khi rơi chạm mặt đất! Có chiếc rơi thật nhanh chúi đầu lao xuống! Có chiếc vẫn run rẩy, không chịu lìa cây. Và những chiếc lá còn lại trên cây, đang nhìn lên trời xanh trên kia hay nhìn xuống mặt đất, để tiếc thương thay cho những, chiếc lá đã bỏ đi trước!!! Nhưng có một điều chắc chắn, những chiếc lá còn lại trên những tàng cây kia; nhìn thấy được nỗi ngậm ngùi trong nàng ở ánh mắt không còn trong nữa! Cuộc đời, con người, và những tương quan trong đời sống! Tình yêu! Nỗi chết! Rồi cũng chỉ như thế thôi!!!
           Và rồi, Hương lại nghĩ đến hình ảnh trong căn phòng nhỏ sau lưng nàng: Joshua và bà Alice. Bà lão còn bao nhiêu thời gian để nói câu:-”I love you too! Joshua!”, còn bao nhiêu thời gian nữa để ngập chìm trong yêu thương ấy???
           Joshua? Thời gian của con két xanh với những riềm vàng, đỏ, cam rực rỡ, là bao xa??? Nhưng có lẽ chắc chắn lúc này, cả bà lão và con Joshua đều chỉ biết đến cái hạnh phúc trân quý tìm lại được nhau! Có nhau! Cho dù thời gian đang trôi qua và ngày mai, ngày hôm sau nữa! Và những ngày kế tiếp, có còn đến nữa hay không!!!
           Nàng ngồi giữa cảnh trời bao la trong vắt trên cao kia trong những suy tưởng miên man. Thời gian qua bao lâu rồi? Hương nhìn đồng hồ: -"2:30 chiều!" Nàng đã ở chỗ này lâu đến thế kia à? Đã đến lúc phải đưa Joshua trở về! Joshua phải trở về căn phòng của Duy, và trở lại làm tù nhân trong một nơi chốn với đầy đủ thức ăn, nước uống! Chỉ thiếu bàn tay của bà Alice!!!
 
           Khi Hương trở lại căn phòng số 210, cảnh tượng âu yếm lúc trước không còn nữa! Joshua đang đậu trên thành giường! Còn bà Alice nằm trên giường với bao nhiêu dây nhợ gắn vào người! Nào là dây truyền thuốc, dây truyền thức ăn! Trông bà ta có vẻ mệt mỏi!!! Cô y tá da mầu có nụ cười xinh tươi, nhìn Hương rồihỏi:
           -“Cô quen thế nào với bà Alice?”
           Hương chỉ con Joshua:
           -“Qua con két này!”
           -“Thật à?”
           Câu hỏi tuy ngắn, gọn nhưng bao hàm nhiều câu hỏi khác nữa. Hương phải giải thích sơ sơ:
           -“Bà ta là chủ trước của nó. Tôi đưa nó đến thăm chủ cũ. Vậy thôi!”
           -“Cô tử tế quá!”
           Lần đầu tiên, từ lúc gặp gỡ Hương thấy bà Alice nhìn nàng lâu hơn. Ánh mắt dịu xuống.
           Hương đến gần Joshua và gọi, nàng làm như nó hiểu:
           -“Joshua! Đến lúc phải đi về..” 

           Hình như nó biết nên cứ chần chờ. Mấy cái móng bấu chặt xuống thành giường, trừ ngón khuyết tật.  Hương đến gần, nó càng nhích đi xa! Mấy cái móng vẫn quặp chặt như một câu trả lời rõ ràng. Hương không biết phải làm sao! Joshua không huýt sáo như mỗi lần Hương gọi nó nữa! Như đọc được tất cả những ý nghĩ trong đầu của cả Hương và con Joshua, bà Alice gọi nó:
           -“Joshua!”
           -“Mama!”
           -“Ồ nó nói được!”
           -“Go home, Joshua! Go home!”
           Nó lập lại lời bà Alice:
           -“Go home! Go home!”
           Nhưng vẫn không nhúc nhích, Joshua lại kêu lên:
           -“Love ya, Mama! Go home!” 

           Bà lão nhấc khẽ cánh tay đầy dây nhợ và xòe lòng bàn tay trắng bệch. Joshua bay lại, đậu trong lòng bàn tay bà lão. Nó dụi cái mỏ vào lòng bàn tay bà. Hương thấy bà ta nhắm mắt lại, không phải để đón nhận tình yêu như trước đây, nhưng như một sự cam chịu hay một sự chống trả rất âm thầm nào đó. Bà lão lại nói với Joshua bằng một giọng thật nhỏ, như chỉ để cho mình nó nghe và hiểu:
           -“Go home, baby! You can not stay here.. I have no home now! Go, baby!..Go..”
           Hương chợt thấy mi mắt nàng nặng trĩu. Quay sang người y tá, Hương hỏi một câu hỏi mà trong thâm tâm nàng cho rằng đây chỉ là một câu hỏi cầu may:
           -“Nó ở lại với bà cụ được không cô?” Cô y tá lắc đầu:
           - “Ở đây toàn là người bệnh, luật không cho phép người bệnh nuôi thú vật trong này.”
           Hương lặng im!!!
           Và Joshua. Hình như hiểu được tất cả những gì bà Alice nói gọn trong vài chữ đó, hay chỉ là những cảm nhận thiêng liêng giữa Joshua và bà Alice! Chỉ giữa con két xanh và bà lão!!! Nó bay lên và đậu vào vai Hương, nhưng vẫn kêu lên:
           - “Love ya Mama!”
           -“I love you too, Joshua!”
           Mở mắt ra, nhìn Hương, bà lão ngập ngừng nói:
           -“Cám ơn cô.. đã mang Joshua đến đây! Thỉnh thoảng nếu được gặp nó thì... vui lắm!!!”.
           Hương đến gần, nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà Alice, và nhẹ nhàng nói:
           -“Mỗi tuần tôi sẽ mang Joshua vào thăm bà!”
           Bà Alice chợt nhắm mắt lại. Bà ta ngập ngừng:
           -“Cám ơn cô! Cám ơn cô nhiều lắm!!!” .
           Nàng đi ra, và không nỡ quay lại nhìn căn phòng nhỏ có bà lão gầy gò với bao dây nhợ quanh người đang nằm đếm thời gian!!!
           Có tiếng thổn thức mơ hồ không biết là của ai? Của bà lão? Của Joshua? Hay của chính Hương??? 


.



Danh Ngôn và Cuộc Sống 190








.


Vì sao người xưa dạy rằng phúc là không được hưởng hết?



          Trước đây, ở một địa phương nọ, có hai người đàn ông là bạn thân thiết của nhau. Một người ăn chay niệm Phật rất lâu, nhưng lại luôn bị bệnh và nghèo khó. Về sau này, anh ta thốt lên rằng: “Ăn chay niệm Phật là không có tác dụng gì!”
          Lúc ấy người bạn của anh ta đã nghe thấy câu nói này rồi nói đùa rằng: “Anh nói ăn chay niệm Phật là không có tác dụng, thế thì anh hãy đem công đức mà anh ăn chay niệm Phật trong suốt thời gian qua bán lại cho tôi đi!”
          Người ăn chay niệm Phật tưởng lời nói của bạn mình là thật, liền nói lời đồng ý. Bạn của anh ta từ lời nói đùa giỡn cũng chuyển thành lời nói thật.
          Thế là, hai người họ thực sự đã trả tiền cho nhau rồi lập giấy biên nhận. Người ăn chay niệm Phật bán đi phần phúc báo do ăn chay niệm Phật mà có của mình cho anh bạn kia và nhận một số tiền tương đối lớn.
          Ngay đêm ngày hôm sau khi đang ngủ, anh ta liền mơ thấy một giấc mơ hãi hùng.
          Trong giấc mơ ấy, một con quỷ đến tìm anh ta và nói rằng: “Phúc báo của anh hiện đã hưởng hết, chỉ một tháng nữa số mệnh của anh sẽ chấm dứt!”
          Người đàn ông này sợ quá liền bừng tỉnh. Sau khi suy nghĩ lại, anh ta vội vàng quyết định tìm đến chỗ anh bạn kia để trả tiền và thu hồi giấy biên nhận đã bán phần phúc báo đó.
          Nhưng thật không may cho anh ta là giấy biên nhận kia đã bị người bạn đốt đi rồi. Đúng như lời con quỷ nói, chỉ một tháng sau anh ta đã lìa đời.

          Người xưa dạy phúc là không thể hưởng hết phúc nếu như hưởng hết thì tất sẽ chiêu mời họa.

          Từ xưa đến nay, có rất nhiều vĩ nhân nổi danh đều nói: “Khi tôi còn nhỏ, di sản lớn nhất mà cha mẹ tôi cho tôi chính là sự nghèo khó!”
          Mạnh Tử nói:  Trời xanh giao trọng trách cho ai, ắt phải khiến tâm trí người ấy dày vò, gân cốt đày đọa…
          Ngạn ngữ có câu: Trẻ nghèo sẽ sớm biết lo liệu việc nhà.

          Người xưa thường nói rằng: Mỗi một người có mặt ở trên đời này đều là vì có phúc báo nên mới có thể sống. Cho nên phải lưu ý rằng đừng chỉ sớm dùng hết phúc báo trong mệnh của mình mà không lo tu bổ thêm.  
          Chúng ta nên hiểu rõ “nhân cách và đức hạnh” mới là tài phú quý báu nhất của đời người. Khi chúng ta đã là người có “nhân cách đức hạnh” thì nhất định sẽ có phúc báo và cuộc sống của chúng ta sẽ trôi qua yên bình, hạnh phúc. 
          Đừng than phiền khi gặp khó khăn, cuộc sống không được như ý muốn bởi vì có thể đó là bạn đang chịu khổ mà tích đức, tích phúc báo cho tương lai của bản thân mình!


.


Nếu có một ngày bạn thất bại...



          Cảm giác thất bại không dễ thở chút nào. Nó khiến ta cảm thấy mình kém cỏi, mình thua người khác, mình vô dụng...
          Đó là lúc ta cần đọc những bài học về sự thất bại...

          Một người phụ nữ kể, cô ấy luôn luôn đọc những mẩu chuyện về thất bại. Không phải để soi mói lỗi lầm của người viết mà để nhìn lại bản thân. Cô ấy là người phụ nữ trung niên, nhưng cô cũng giống như người khác, cũng vấp phải thất bại, và cô đọc để xem người khác đối diện với nó như thế nào, để tiếp tục đứng lên.
  
          Thất bại thật sự không dễ thở chút nào. Nhất là trong kinh doanh hay tình cảm. Thất bại trong kinh doanh làm mất một số tiền lớn, đẩy cuộc sống tới bế tắc. Thất bại trong tình cảm khiến con người như vô hồn, mất tinh thần, lãnh đạm, thờ ơ...

Nhưng có những người suốt đời sống trong thất bại...

          Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln thưở nhỏ không có điều kiện đi học. Năm 1816, gia đình ông bị đuổi khỏi căn nhà đang ở, ông phải đi làm thuê. 1818, mẹ ông qua đời. 13 năm sau, ông kinh doanh nhưng thất bại. 1 năm sau đó ông tranh cử vào cơ quan lập pháp nhưng thua. Tiếp theo ông mất việc. Ông đã từng mượn tiền để làm ăn kinh doanh nhưng phá sản. Ông tranh cử cho vị trí phát ngôn viên, ứng cử viên quốc hội liên bang, chạy đua vào quốc hội, xin làm cán bộ sở đất, chạy đua vào thượng viện...tất cả đều THUA.
          Ông thua 8 lần bầu cử, 2 lần kinh doanh, ông từng đính hôn với 1 người con gái, nhưng cô ấy mất và trái tim ông vỡ vụn...

          Nhà bác học Thomas Edison thất bại từ 10.000 đến 14.000 lần để tạo ra được chiếc bóng đèn điện. Có người hỏi liệu ông có mệt mỏi và chán nản không khi thất bại nhiều lần như vậy. Ông cười: Không, tôi tìm ra cách làm khác từ những thất bại như vậy. Và ông cứ làm, cứ làm...

          Ta nhớ lại bài học về Nhút Nhát và Liều Lĩnh. Nhút Nhát và Liều Lĩnh là 2 người bạn thân. Nhút nhát học rất giỏi, nhưng không có bạn. Cậu thích chơi đùa, nhưng không dám chơi bất kỳ trò chơi nào của tập thể. Nhút Nhát thích vẽ, nhưng lại từ bỏ bởi sợ thất bại. Cậu ấy vào đại học Y, sống một cuộc sống sinh viên nhàm chán và khi không chịu nổi, cậu ta tìm đến Liều Lĩnh. Nhút Nhát hỏi:
          - Tại sao cậu có nhiều bạn thế? 
          - Vì tớ chủ động kết bạn với mọi người - Liều Lĩnh trả lời 
          - Nhưng cậu sẽ gặp những người bạn xấu ? 
          - Nhưng nhờ những người bạn xấu mà tớ mới biết quý những người bạn tốt thật sự. 
          - Cậu dám mở một shop kinh doanh mà không sợ rằng mình sẽ lỗ vốn sao? 
          - Nếu điều đó xảy ra thì tớ vẫn sẽ lời to khi thu về những kinh nghiệm cho mình. 
          - Tại sao cậu lại yêu thương một người hết lòng khi biết rằng sẽ chẳng có gì là mãi mãi? 
          - Vì tớ là con người, chứ không phải một cỗ máy, như cậu!

          Và... Nhút Nhát lặng im, cậu chưa bao giờ thất bại trong kinh doanh - vì cậu không dám nghĩ đến những ý tưởng quá táo bạo, chưa bao giờ cậu bị những người bạn xấu lừa lọc mình - vì cậu không có một người bạn nào bên cạnh, chưa bao giờ cậu phải đau khổ trong tình yêu - Nhút Nhát không dám mở trái tim mình ra vì sợ nó trầy xước.

          Câu chuyện dẫn ta đến một bài học khác, dám làm, dám chịu, và đứng lên để thành công...
          Từ lý thuyết tới thực tế là cả một chặng đường. Thực tế chẳng mấy ai làm được như Liều Lĩnh và chẳng mấy ai ngã rồi vẫn có thể đứng lên. Quan trọng là sự dũng cảm đối diện. Làm được nó là đã đi được một nửa, quan trọng là ta có đủ bản lĩnh để đi tiếp hay không?

          Để làm được nó, ta cần tới sự kiên cường và kiên trì. Ai trên thế giới nay cũng từng 1 lần thất bại, nhưng họ khác chúng ta ở chỗ, họ dám đứng dậy và kiên trì đi tiếp...

          Cứ khóc, cứ suy sụp, nhưng hãy gạt nước mắt đứng dậy.
         


.




TRÍ KHÔN NGƯỜI VIỆT


          Từ câu chuyện dân gian không biết ai phóng tác ra bài này, kể cũng thấm thía.
          Một con cọp rất thắc mắc về trí khôn của loài người, bèn đi tìm hiểu:
  


          1. Nó gặp một người Mỹ đang làm ruộng, tới hỏi "trí khôn của ông là gì, ông nói không xong là tôi ăn thịt ông đấy!" Người Mỹ cười không nói không rằng rút cây súng bắn cái đùng vỡ tan tảng đá to kế bên. "Trí khôn của tao là tạo ra vật này có thể làm mày vỡ sọ ngay, mày đi đi!"
          2. Con cọp cả sợ, đi gặp một người Nhật Bản, cũng hỏi "trí khôn ông là gì?" Người Nhật tuốt một thanh kiếm bén ngót chém cái phựt đứt đôi 5 cây chuối kế bên: "trí khôn tao là làm rèn ra loại vũ khí này có thể chặt đứt đầu mày ngay!"
          3. Con cọp lại đi gặp một người Ấn Độ, người này lại lấy ra một miếng thịt cho con cọp ăn và nói chuyện với nó về đạo pháp, "trí khôn của tao là sẽ biến mày thành một người bạn thay vì kẻ thù!"
          4. Con cọp mãn nguyện lắm, trên đường về rừng bỗng gặp một nông dân Việt Nam vốn nổi tiếng toàn cầu về thông minh, con rồng cháu tiên, đánh ăn Mỹ Pháp Tàu..., con cọp mừng lắm cũng đến hỏi, "trí khôn ông là gì?"
          Người đáp "trí khôn tao để ở nhà, tao về lấy cho mày coi nha, nhưng mày phải để tao trói mày lại, không thôi mày ăn con trâu tao!" Cọp cả tin bèn đồng ý. Sau khi trói xong, người châm lửa đốt cháy cọp và miệng nói, "trí khôn của ta đây!"
  


         Dây trói cháy, cọp chạy đi, và mãi đến giờ lông vẫn còn vằn vện do cháy xém, và nó đã hiểu TRÍ KHÔN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM LÀ SỰ LỪA LỌC GIAN TRÁ !

          Và họ mãi xài cái trí khôn đó đến giờ nên chả làm ra được cây kim đừng nói đến kiếm hay súng! Và hơn nữa, họ cứ lừa nhau mà sống nên chả ai tin ai, cứ phải đi tin Mỹ Tàu Nhật này kia thôi, nên sẽ còn nghèo hèn mãi vì cái Trí Khôn quái đản của mình! Thứ khôn lỏi.
          Và với cái thói lừa lọc gian trá đó chả ai muốn làm bạn bè với họ cả, và họ đi đến đâu cũng bị xua đuổi và khinh miệt, nhưng khổ nỗi không mấy ai trong họ nhìn ra được điều đó!

          Anka Pham

.