29 tháng 10, 2014

NƯỚC MẮT CON TRÂU.

          Theo tin được phổ biến bởi “Tin Tức Nhân Dân” (People’s News) của Trung Quốc có một chuyện bất ngờ xảy ra ở Hong Kong, nghe có vẻ khó tin nhưng lại có thật.

          Tờ “Tin Tức Thế Giới Hàng Tuần” (Weekly World News) tường thuật rằng có một nhóm nhân công dắt một con trâu vào trong một lò sát sinh để sửa soạn giết thịt làm bíp-tết và hầm ra-gu.

          Khi họ đi tới trước cửa lò thời con vật thình lình đứng khựng lại, không chịu tiến bước thêm nữa. Chú trâu qùy xuống bằng hai chân trước và tuôn rơi nước mắt. Tại sao trước khi vào lò sát sinh mà một con trâu lại có thể hay biết rằng nó sắp bị xẻ thịt. Điều này tỏ ra nó có vẻ nhậy cảm hơn nhiều con người.

          Tay đồ tể SHIU TAT-NIN kể lại chuyện đó một cách hoàn toàn xúc động: “Khi tôi trông thấy một con vật dường như ngu đần mà lại biết khóc, cặp mắt của nó còn lộ vẻ đầy hãi sợ và buồn khổ, tôi bỗng rùng mình!” Anh chàng kể tiếp: “Tôi vội vàng gọi mọi người tới coi và tất cả đều ngạc nhiên như tôi. Chúng tôi cùng xúm vào để người thì đẩy và người thì lôi kéo chú trâu đi nhưng nó không chịu nhúc nhích, nó chỉ ngồi đó và tiếp tục khóc!”

          Chủ lò sát sinh BILLY FONG nói: “Con người luôn nghĩ rằng những con vật này không giống người, đâu biết khóc, nhưng chú trâu này quả thật đã khóc như một đứa trẻ nít!”

          Vào lúc đó có ít nhất là cả chục con người khoẻ khoắn và vạm vỡ hiện diện nhưng tất cả đều mủi lòng khi thấy chú trâu khóc. Riêng những đồ tể thường có nhiệm vụ hàng ngày phải giết trâu bò trong lò sát sinh thời súc cảm hơn nữa, họ cũng nhỏ lệ.

          Khi các tay đồ tể từ các lò sát sinh khác nghe thấy tin này họ cũng kéo nhau chạy tới xem. Tất cả đám đông đều rất ngạc nhiên vì những chuyện xảy ra trước mắt họ. Ba người đồ tể trong nhóm đó quá súc động đến nỗi họ tuyên bố rằng kể từ lúc này mỗi khi họ phải làm thịt các sinh vật khác họ cũng sẽ không thể quên hình ảnh nước mắt của chú trâu này.

          Kết thúc sẽ giải quyết như thế nào? Thấy cả trâu lẫn người đều nhỏ lệ chúng ta biết rằng chú trâu sẽ không bị xẻ thịt nữa. Quả thật vậy, một số người bỏ tiền mặt ra mua chú trâu đó rồi gửi chú vào trong một ngôi chùa Phật giáo để nơi đó quý Tăng sẽ chăm sóc nó chu đáo hơn và chú trâu có thể an lành sống đến tận cuối đời!

          Một chuyện kỳ lạ khác lại xảy ra. Sau khi có quyết định trên, chú trâu linh cảm rằng sinh mạng chú được bảo đảm, chú tự đứng dậy và đi theo họ. Đồ tể SHIU TAT-NIN ngạc nhiên nói: “Tại sao một con trâu lại hiểu được những lời nói của con người? Dù bạn có tin hay không nhưng chuyện lạ lùng này quả có thật.”

          Hiển nhiên chú trâu này đã làm lay chuyển cuộc sống của những nhân công làm việc trong lò sát sinh !

                                           
(Weekly World News) – Tâm Minh lược dịch


.
 


Giá Trị Của Nghịch Cảnh


          Chúng ta thường than oán mỗi khi rơi vào nghịch cảnh...
Những nông dân ở miền nam Alabama đã quen trồng chỉ mỗi một thứ là cây bông (dùng để xe chỉ, dệt vải).

          Một năm kia những con sâu bọ đáng sợ đã tàn phá cả vùng.
Năm sau những người nông dân đem nhà cửa của họ đi cầm cố để có tiền và tiếp tục trồng cây bông, hi vọng vào một kỳ gặt hái tốt đẹp.
Thế nhưng khi những cây bông bắt đầu mọc, những con sâu bọ đó lại đến và phá sạch hầu hết các cánh đồng .
          Một số ít người "sống sót" qua hai năm đó đã quyết định trồng thử một thứ mà trước đây họ chưa bao giờ trồng - cây đậu phộng.

          Và kết quả là đậu phộng của họ đã nhanh chóng được thị trường ưa chuộng, đến nỗi lợi tức của năm đó đủ để cho họ trả hết nợ của hai năm trước . Kể từ đó họ trồng đậu phộng và rất phát đạt .

          Và rồi bạn biết những người nông dân đó đã làm gì không ? Họ trích một phần tài sản to lớn của mình để dựng một đài kỷ niệm ngay giữa trung tâm thành phố ghi công "những con sâu bọ".
 
          Bởi nếu không vì những con sâu đó họ sẽ không bao giờ khám phá ra đậu phộng .
Họ sẽ mãi mãi chỉ đủ ăn với nghề trồng cây bông từ thế hệ này qua thế hệ khác.


          Chúng ta thường than oán mỗi khi rơi vào nghịch cảnh .


          Thế nhưng nghịch cảnh đều có giá trị của nó .Và nếu chúng ta không bỏ cuộc, không đầu hàng, ngược lại nếu chúng ta coi đó như là những cơ hội để phấn đấu vươn lên,
chắc chắn chúng ta sẽ khám phá được những giá trị quí báu.


.

 

Cái hồ huyền bí

          Bà Hằng đứng lặng trước gương tự ngắm mình. Buổi sáng mới ra khỏi giường, mái tóc xanh mướt còn sổ tung, ôm lấy khuôn mặt không một vết nhăn, nước da trắng ngà với hai con mắt long lanh sáng trong gương đang nhìn lại bà như khiêu khích, khiến bà bối rối.
Tiếng động ở trong bếp, con gái bà đang lo bữa ăn sáng cho thằng út 12 tuổi trước khi xe bus trường học đến đón. Bà nghe tiếng cô nói với vào phòng bà.
- Mẹ, con đi làm. Con làm thêm trứng cho mẹ ăn sáng rồi, chốc nữa mẹ chỉ nướng bánh thôi.
- Cám ơn con. Bà nói vọng ra, giọng uể oải. 

          Tối qua, chủ nhật có mấy người bạn của con đến chơi, bà rút vào phòng nhưng vẫn không ngủ sớm được. Cái cơ thể của một người đàn bà ngoài 70 không chiều bà nữa, không phải cứ đặt lưng xuống muốn ngủ là ngủ ngay như vài chục năm về trước.
          Con rể bà đã dậy đi làm từ năm giờ sáng, anh ta phải làm theo thời khóa biểu của miền đông nước Mỹ, cách miền tây ba tiếng. Hai đứa cháu ngoại lớn đã vào đại học đi xa, may mà có thằng út bonus này mới lên mười hai. Ba giờ tan học, nó về trò chuyện với bà được vài câu khi bà cho nó ăn, rồi nó còn làm bài, còn học võ, còn bạn bè. Thôi thì nó bận cho đến khi bố mẹ nó về.
          Con, cháu ra khỏi nhà, bà xuống bếp ăn sáng, một mình. Bà ngồi uống chậm từng ngụm cà phê pha với sữa Ensure, cô con gái ép bà phải dùng sữa này từ mấy tháng nay khi bà mất kí. 
          Một khúc phim quay mờ mờ trong trí bà, nhưng càng lúc càng rõ nét. 
          Ngôi làng Trout Creek ở Montana, mùa hè của mười năm về trước, hai vợ chồng bà về thăm ông chú chồng. Ở đó bà gặp một nhóm bạn già của chú, họ nói chuyện về một chiếc hồ lạ lùng như trong huyền thoại. Họ bảo, nơi đây có một chiếc hồ nhỏ, mấy chục năm hay có khi cả trăm năm, nó lại xuất hiện trong đám lau nằm về phía tây ngôi làng. Nếu ai có cơ duyên gặp nó sẽ thấy một sự nhiệm mầu xẩy ra.Cái hồ đó không phải ai cũng thấy được, và không biết nó hiện ra và biến đi lúc nào, nhưng nó có một phép lạ, nó có thể lấy đi tuổi tác trên thân thể mình. 


Bà tò mò hỏi:
- Thế có nghĩa là gì?
Một cụ ông nhìn vào mắt bà nói:
- Có nghĩa là khi bà trầm mình xuống đó, nó có thể lấy đi một số tuổi của bà, và sau khi bà bước ra khỏi nước, bà thành một người của ba mươi hoặc hai mươi năm về trước, tùy theo lòng mong ước của bà. 
          Bà mừng rỡ, lấy làm thích thú với cái chi tiết hấp dẫn đó, đòi chồng dắt bà đi tìm chiếc hồ đó vào ngay buổi sáng hôm sau. Bà thuyết phục chồng:
- Em vào tuổi 60 rồi, các vết nhăn rõ quá rồi, da đã chấm đồi mồi. Anh lại không cho em đi sửa sắc đẹp, thì anh phải cho em đi tới chiếc hồ đó chứ. Biết đâu em có may mắn, chiếc hồ nổi lên cho em “Cải lão hoàn đồng”. 
          Ông đã chiều bà, hai người dậy từ tờ mờ sáng, đi về phía tây của ngôi làng. Họ đi xuyên qua những bãi đất ẩm ướt, giẫm lên những rễ cây chằng chịt, lách những đám lau sậy hoang vu, họ ngồi trong một đám lau khác quay mặt về hướng đông, ngồi chờ mặt trời lên để thấy chiếc hồ huyền bí hiện ra. Mặt trời lên từ phía đông, lên đến đỉnh đầu, rồi từ từ ngã xuống và biến mất ở phía tây. Hai vợ chồng vừa đói, vừa khát, cái hồ vẫn không xuất hiện, đành phải bỏ về. Cả nhóm bạn già của ông chú ngày hôm qua xúm lại, khi thấy bà xuất hiện không có gì khác lạ, họ chép miệng ra về. Có người trước khi đi, còn ngoái cổ lại nói:
- Kiên trì đi, mai lại ra, mốt lại ra, biết đâu ông thần hồ ông ấy sẽ động lòng.
Một bà già nói:
- Trong suốt đời ở đây, chúng tôi ra cả mấy chục lần rồi, chẳng hề thấy cái hồ xuất hiện. Chỉ là huyền thoại thôi .
Bà lão khác giễu:
- Biết đâu chị là người Á Đông ông thần thích chị hơn. Cứ cố nữa đi. 
          Bà không nản, bà cố nữa thật, cái ao ước được trẻ đẹp lại trong lòng bà đã có từ lâu, từ khi bà chấm dứt chu kỳ thời sanh nở. Đã rất nhiều lần bà đứng trước gương, thử tưởng tượng cặp mắt mình được kéo lên một chút cho bớt xụp; cái cầm độn thêm một chút cho thanh mảnh như thời con gái; da hai bên mang tai kéo lên cho hai cái dấu ngoặc bên mép bớt xệ xuống, buồn phiền; cái môi bơm cho đầy đặn quyến rũ và nhất là bộ ngực được tiếp một bịch chất lỏng vào cho da căng lại như thời ba mươi tuổi. 
          Sau một tuần liên tiếp, buổi sáng phải dậy từ mờ sương, và về khi mặt trời lặn, ăn bánh mì, uống nước chai, ông không chiều bà nữa, ông nói, bà muốn thì đi một mình, vì bà đã thuộc đường rồi. Cũng chỉ còn hai hôm nữa là ông bà phải trở về nhà mình ở Florida.
          Bà đã đi lần cuối cùng, một mình và cái hồ huyền bí đã hiện ra với bà. Bà nhớ rõ ràng cái cảm giác không rõ rệt của buổi sáng hôm đó. Bà bước trên đất ẩm, bước trên cỏ còn ngậm sương và bước cuối cùng vừa lách qua khỏi đám lau, bà thấy ngay một cái hồ nhỏ, nước mầu tím ngắt như pha mực dưới chân bà. Bà chưa kịp suy nghĩ đã thấy như có ai kéo chân bà xuống, dìm bà ngập đầu và khi bà hoàn hồn thì cái hồ đã biến mất, cạn khô như nó chưa hề dâng lên trên mặt đất.
           Mặt trời vẫn chói chang trên đầu, bà ra khỏi đám lau, lên xe về nhà ông chú như một  người mộng du, như có ai lái xe mà bà chỉ ngồi bên cạnh. Chồng bà là người đầu tiên đón bà ngay khi cửa xe mở, ông đứng sững, nhìn bà, cả phút sau mới thốt lên được một câu ngắn:
- Em đã toại nguyện. 
          Bà chạy ngay vào phòng tắm, nhìn mình trong gương. Bà sững sờ đến không cất nổi một tiếng kêu, bà tưởng mình đang đứng đối diện với cô con gái ba mươi tuổi của mình. Bà nhìn kỹ một lúc, thấy mình còn trẻ hơn con . 
          Từ đó bà sống một cuộc đời mới. Khi bà đi ra đường với chồng, người không quen tưởng hai cha con; bà đi với con gái, họ tưởng chị em; bà đi với cháu nội, cháu ngoại người ta tưởng bà chỉ là một chị giữ trẻ. Những người trong gia đình, trong họ hàng, bạn hữu cư xử với bà khác đi. Họ không thân thiện như trước nữa. Bạn bè xa cách vì thấy bà đã sửa sắc đẹp và trẻ hơn họ nhiều quá, con cái bà ngượng ngùng khi gọi bà là mẹ, nhất là cậu con trai ngoài bốn mươi, lung hơi gù và tóc đã muối tiêu. Cô con gái thì không phản đối ra mặt nhưng cô tránh đến nơi công cộng cùng bà.Chỉ có mấy đứa cháu là chúng thích thú khi khoe với bạn bè là bà của chúng trẻ hơn tất cả các cô giáo trong trường. 
          Ban đầu bà rất hãnh diện và tự phụ về sự trẻ trung xinh đẹp của mình, bà bấp chấp những người chung quanh đang ganh tị nhan sắc của bà. Bà đi ra đường nhiều hơn, đi một mình, thích nói cho người lạ biết bà bao nhiêu tuổi để được nhìn mắt họ tròn xoe thèm muốn, ganh tị. Bà thấy mình tự tin hơn, yêu đời hơn. Bà mặc quần ngắn, váy ngắn, áo hở cổ trông vẫn rất tự nhiên, không làm người khác khó chịu vì nó hòa hợp với nét trẻ trung trên mặt và vóc dáng của bà. Nhưng có một điều làm bà không hài lòng là hình như chồng bà không mấy hứng thú khi ôm một người vợ quá trẻ hơn mình. Ông thấy ông mỗi ngày một già đi mà bà vẫn đứng nguyên một chỗ. Bà gặng hỏi ông thì ông chỉ ngập ngừng nói:
- Cũng được… cũng được.
          Có lần hai ông bà đang xem truyền hình, thấy quảng cáo về mỹ viện, ông tắt ngay, vừa đứng lên vừa nói trống không:
- Họ không biết là làm cho trẻ cái vẻ bên ngoài mà gan ruột vẫn già nua, sức khỏe vẫn suy xụp thì khác gì hình nộm.
Bà giận lắm, nhưng không biết phản ứng thế nào cho đúng, vì quả thật cơ thể bà vẫn là cơ thể của một bà lão bẩy mươi. 
          Cái ông thần hồ huyền bí mấy chục năm hay cả trăm năm mới hiện ra một lần đó rất oái oăm. Ông lấy đi tuổi tác trên thân thể nhưng ông vẫn để sức khỏe của tuổi tác suy hóa theo thời gian ở lại. Ông đã cho thân thể bà lại tuổi thanh xuân như một cái hộp mỹ miều nhưng lại đựng trong đó những vật cũ kỹ như số tuổi của bà. 
          Bà vẫn có tất cả những vấn đề về sức khỏe của một phụ nữ từ tuổi sáu mươi bước sang bẩy mươi ở trong một thân thể trẻ trung của tuổi ba mươi.
           Người ta thấy bà lưng ong, ngực nở, môi thắm, má hồng, mắt long lanh, răng như ngà, ăn mặc thời trang trong mọi buổi họp mặt. Nhưng bà ngồi thở dốc khi mới giữa buổi chơi, ăn ít và kêu đau lưng, nhức mỏi, Đôi mắt long lanh đó không đọc báo được nếu không đeo kính lão, bàn tay nuột nà trông khỏe mạnh đó, không cắt được quả táo quá cứng, không xẻ được quả dưa hơi to. Bà dễ quên, dễ vấp ngã và đang phải kiểm soát áp huyết thường xuyên. Những lúc đó bà thấy ngượng với chính mình, cảm tưởng mình như một diễn viên đóng kịch dở. 
          Buồn nhất hai năm trước đây, khi ông qua đời ở tuổi già, bà đã đứng cạnh áo quan như một góa phụ còn nguyên nét thanh xuân. Bà nghe thấy những lời xì xào như tiếng ong vo ve chung quanh bà.
          Sau đám tang bà đóng cửa hai ba ngày, soi mình trong gương, bà bị giằng co giữa nhan sắc và tuổi tác. Có nên trả lại thanh xuân cho cái hồ huyền bí đó không? Cuối cùng bà nghĩ đến sự cô đơn, không có ai muốn cố gượng thân với mình nữa sau khi ông mất. Bà đành chấp nhận trở về với chính tuổi tác của mình. 
          Sau cái giỗ 49 ngày của ông, bà tìm về Trout Creek một mình, bà không cho bên chồng biết, bà ngủ ở khách sạn và tìm về phía Tây ngôi làng. Bà đã đến đó, mang theo lương thực, ngồi trong đám lau ẩm ướt chờ cái hồ huyền bí xuất hiện để bà nhẩy xuống đòi lại những nếp nhăn trên mặt, những da thịt lồi lõm trên thân thể, những sợi tóc bạc và hàm răng không toàn vẹn của mươi năm trước cái hồ đã lấy đi của bà. Bà sẽ trả lại má phấn, môi hồng và mái tóc đen bóng, hàm răng ngà này lại cho ông thần hồ.
          Bà đã ở đó một tuần, sáng sáng lái xe đến vùng đất đã có chiếc hồ huyền bí xuất hiện. Khu đất đó vẫn khô cằn mặc dù đám lau ẩm ướt bao chung quanh nó. Cái hồ không bao giờ hiện ra nữa, mà nếu mấy chục năm nữa, nó còn hiện ra, thì làm sao bà có thể đợi được. Bà biết rằng phép lạ không thể xẩy ra hai lần cho một đời người, ngay cả cái hồ huyền bí có xuất hiện ngay bây giờ, chắc gì ông thần hồ trả lại cho bà mắt, môi ngày cũ.
Bà thất thểu ra về, bà biết mình đã mất hẳn những cái bà đã có, đã nhận được, theo thời gian tuổi tác của mình. Bà đã vứt nó đi không thương tiếc, bà không lấy lại được nữa. 
           Bà hình dung ra khi bà nằm xuống, ở tuổi 80 hay 90 trong áo quan với một khuôn mặt trẻ măng, chung quanh đám con, dâu, rể , đã tóc bạc, da mồi.
Bất giác bà rùng mình.

                                                                                                                           Trần Mộng Tú

.


Mơ ước bình thường

           Cô bạn tôi bị té xe hồi chiều, ban đầu trông có vẻ bình thường. Một lúc sau thì choáng váng.  Khi được đưa vào bệnh viện Chợ Rẩy thì bác sĩ cho biết là bị xuất huyết não, phải giải phẫu ngay tức khắc.
          Giải phẫu xong, cô được đưa vào nằm ở tầng thứ hai. Nghe nói đến tầng lầu nầy ở bệnh viện Chợ Rẩy thì phần đông đều nghĩ đến những chuyện ít may mắn, có vào, khó ra. Lúc tôi bước vào căn phòng nầy, cái cảm giác đầu tiên là khó thở, với hai dãy giường bệnh vừa được làm phẫu thuật xong. Hầu hết đều không được lành lặn bình thường và nằm bất động. Cô bạn của tôi là một trong những cái xác không hồn đó. Đầu cạo trọc, trên người được đắp một chiếc áo bệnh viện màu xanh. Thân thể gần như lõa lồ và nếu không biết trước thì chắc cũng khó nhận ra đươc đó là một người đàn bà giàu có, xinh đẹp  ở Mỹ về, xài tiền như nước.


          Tôi chỉ biết đứng yên nhìn cô ta, và trong lòng hoang mang cảm khái. Cô vẫn mê man, chưa biết sống chết thế nào. Bác sĩ cho biết là có thể hôn mê trong nhiều ngày.
Năm ngày sau thì cô tỉnh dậy. Vậy là cô đã thoát chết. Mấy hôm sau thì cô được chồng đem về Mỹ. Hai tháng sau, tôi có việc qua Mỹ và ghé thăm cô tại nhà. Bây giờ thì tóc đã mọc lại khá dài, che hết phần sọ bị cưa. Nhan sắc đã được phục hồi, trở lại một người đàn bà duyên dáng hoạt bát. Cô kể lại cho mọi người nghe về chuyện tai nạn và cô nói : “Trước khi lên bàn mổ, mình nghĩ chỉ cần được sống là đủ và sẽ không bao giờ đòi hỏi  bất cứ một điều gì khác.”
          Hôm sau, tôi theo cô bạn đến phòng khám bệnh của một bác sĩ đươc giới thiệu để cô tái khám. Cô bạn bước vào phòng, tươi cười chào hỏi và để tập hồ sơ bệnh lý của cô lên bàn. Vị bác sĩ đọc qua hồ sơ và hỏi cô : “ Thế bây giờ bệnh nhân bị mổ ở đầu đang ở đâu?”. Cô bạn có hơi ngạc nhiên, nhưng sau đó hiểu ra, cô trả lời ”Chính là tôi.”
Vị bác sĩ trợn mắt nhìn cô, chỉ nói được một câu :”Không thể tưởng tượng được, nếu thế thì quả là một phép lạ.”
          Sau khi khám lại vết thương, hỏi cô nhiều điều, bác sĩ cho biết tình trạng sức khỏe hoàn toàn bình thường và bảo cô ký vào một giấy tờ gì đó. Cô cầm bút, nhưng thay vì ký vào chỗ đã có đánh dấu sẵn, thì cô ký lệch mấy phân vào phía dưới. Bác sĩ cười bảo :”Đấy là điều duy nhất còn sót lại mà cô cần phải chữa” và cho cô một cái hẹn khác.
Cô bạn tôi ra về với những nét băn khoăn hiện ra trên mặt. Tôi an ủi, và nhắc lại lời cô nói sau khi tỉnh dậy, miễn được sống mà thôi. Cô trả lời:” Lúc đó thì nghĩ như thế thật, nhưng khi được sống rồi thì muốn những điều tốt hơn, mình nghĩ con người chắc ai cũng thế.”
          Đúng. Con người ai cũng thế. Nhưng cái mơ ước của cô bây giờ chỉ là mong nhận được một cái cô đã có từ trước, và đã đánh mất. Cô chỉ mong được ký đúng vào chỗ có đánh dấu không bị lệch ra ngoài do thần kinh không kiểm soát được mà thôi. Đấy là một tai nạn ngoài ý muốn đã làm cô bị một hậu quả nhỏ như thế, nhưng cũng có những trường hợp mình tự ý quẳng một vật sở hữu của mình đi, cuối cùng lại ao ước được có lại như cũ.

          Ở đời có nhiều cái mơ ước rất bình thường. Bị một vết xước trên thân thể cũng đã làm mình khó chịu và chỉ mong lành lặn lại như cũ. Lúc sở hữu một cái tầm thường thì không quan tâm, quý trọng, đến khi mất thì tiếc nuối và chỉ muốn được lại cái mình đã có từ trước. Nhiều cặp vợ chồng cũng mất hạnh phúc vì cứ nghĩ là mình phải  được hơn như thế, vợ đòi hỏi chồng phải hơn như thế và ngược lại, cho  đến khi tan vỡ, ân hận thì đã quá muộn màng.
          Mơ ước cái mình chưa có cũng là chuyện bình thường, nhưng nếu ước mơ không đạt được thì cũngkhông sao. Mơ ước được giàu sang phú quý, cũng không hình dung được giàu sang phú quý đến như thế nào. Một người con gái mơ có tiền để sửa sắc đẹp, chưa biết sẽ đẹp như thế nào, và nếu không thực hiện được ước mơ thì cũng đành quên đi. Nhưng nếu  một hôm cô ta bị gẫy một chân, thì mơ ước của cô chỉ là làm sao có được đôi chân lành lặn như cũ mà thôi.
          Tôi có một người bạn khác, một hôm phải vào bệnh viện và kết quả cho biết là anh ta bị sưng túi mật rất nghiêm trọng phải giải phẫu gấp mới an toàn tính mệnh. Lúc chúng tôi vào thăm anh ở bệnh viện thì được biết anh đã được an toàn và chỉ vài ngày sau có thể xuất viện về nhà.  Anh nói với tôi :”Có thế nầy mới biết được chúng ta luôn luôn đứng trên ngưỡng cửa của cái chết mà không biết. Có thế nầy mới thấy nên có một quan niệm về đời sống thực tế hơn.”
          Anh nói thì thế, nhưng khi lành bệnh, trở lại làm việc một thời gian thì anh ta vẫn chẳng khác gì ngày xưa, không có chút nào đổi thay.
                                            

          Ngài Đạt Lai Đạt ma có một câu nói rất hay và đơn giản; ” Có nhiều người sống mà không nghĩ là mình sẽ chết. Đến khi sắp chết, mới chợt nhận ra là mình chưa sống!”

          Nói là đơn giản, nhưng không phải ai cũng hiểu sâu xa ý nghĩa của câu nói đó. Người ta không bao giờ mơ ước bình thường. Nhưng hãy trân trọng và sống với cái mình đang có.

.

 

CON BÚP-BÊ VÀ CÀNH HOA HỒNG

           Tôi đi vòng trong một tiệm Target và chứng kiến cảnh người thu-ngân đang trao lại một số tiền cho cậu bé. Cậu chỉ độ 5 hay 6 tuổi. 

           Người thu- ngân nói, “Rất tiếc là em không có đủ tiền để mua con búp-bê này”.
Ðoạn cậu bé quay sang bà cụ đứng cạnh: “Bà à, bà có chắc là con không có đủ tiền không, bà?” 


           Bà cụ đáp: Con à, con biết là con không có đủ tiền để mua con búp-bê này mà”.
Rồi bà cụ bảo cậu bé cứ đứng đó chừng 5 phút để bà đi một vòng trong tiệm. Rồi bà lẩn đi ngay.


           Cậu bé vẫn cầm con búp-bê trong tay.
           Cuối cùng , tôi bước đến cậu bé và hỏi là cậu muốn tặng con búp-bê này cho ai.

           “Ðây là con búp bê mà em gái của con yêu thích lắm và ước ao có được trong Giáng Sinh này. Em ấy tin là Ông già Noel sẽ mang quà này lại cho em ấy.” 

Tôi trả lời cậu bé rằng “thế nào Ông già Noel rồi cũng sẽ mang lại cho em con, con đừng lo.”
           Nhưng cậu trả lời buồn bã. “Không, Ông già Noel không mang đến chỗ em đang ở được. Con phải trao con búp-bê này cho mẹ con, rồi mẹ con mới có thể trao lại cho em con khi mẹ đến đó.”
Ðôi mắt cậu bé thật buồn khi nói những lời này.
“Em con đã trở về với Chúa. Ba con bảo là mẹ cũng sắp về với Chúa, bởi vậy con nghĩ là mẹ có thể mang con búp-bê này theo với mẹ để trao lại cho em con.”
Tim tôi như muốn ngừng đập. 


           Cậu bé nhìn lên tôi và nói: “Con nói với ba là hãy bảo mẹ đừng có đi vội. Con muốn mẹ con hãy chờ con đi mall về rồi hãy đi.”
Rồi cậu lấy ra cho tôi xem một tấm ảnh trong đó cậu đang cười thích thú.
“Con muốn mẹ mang theo tấm ảnh này của con để mẹ sẽ không quên con.
Con thương mẹ con và mong ước mẹ không phải bỏ con để đi, nhưng ba con nói là mẹ phải đi để ở cạnh em của con.”
Rồi cậu lặng thinh nhìn con búp-bê buồn bã. 


           Tôi vội vàng tìm ví bạc trong túi và nói với cậu bé: “hãy thử coi lại xem, biết đâu con lại có đủ tiền mua con búp-bê này thì sao!”
“Dạ”, cậu bé đáp, “con mong là có đủ tiền”. Không cho cậu bé thấy, tôi kẹp thêm tiền vào mớ tiền của cậu bé, và chúng tôi cùng đếm. Chẳng những đủ số tiền cho con búp-bê mà còn dư thêm một ít nữa.
Cậu bé nói: “Cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền!” 


           Rồi cậu nhìn tôi và nói thêm, “tối qua trước khi đi ngủ, con đã hỏi xin Chúa hãy làm sao cho con có đủ tiền để mua con búp-bê này để mẹ con có thể mang đi cho em con. Chúa đã nghe lời cầu xin của con rồi..” 

           “Con cũng muốn có đủ tiền mua hoa hồng trắng cho mẹ con, nhưng không dám hỏi Chúa nhiều. Nhưng Ngài lại cho con đủ tiền để mua búp-bê và hoa hồng trắng nữa..”
“Mẹ con yêu hoa hồng trắng lắm.” 


           Vài phút sau bà cụ trở lại, và tôi cũng rời khỏi tiệm. 

           Tôi làm xong việc mua sắm trong một trạng thái hoàn toàn khác hẳn với khi bắt đầu vào tiệm. Và tôi không thể rứt bỏ hình ảnh của cậu bé ra khỏi tâm trí tôi.
Ðoạn tôi nhớ lại một bài báo trong tờ nhật báo địa phương cách đây hai hôm. Bài báo viết về một tài xế say rượu lái xe vận tải đụng vào xe của một thiếu phụ và một bé gái nhỏ.
Ðứa bé gái chết ngay tại hiện trường, còn người mẹ được đưa đi cứu cấp trong tình trạng nguy kịch. Gia đình phải quyết định có nên rút ống máy trợ-sinh khỏi bệnh nhân hay không vì người thiếu phụ này không còn có thể hồi tỉnh ra khỏi cơn hôn mê.
Phải chăng đấy là gia đình của cậu bé? 



           Hai ngày sau khi gặp cậu bé, tôi đọc thấy trên báo là người thiếu phụ đã qua đời. Tôi bị một sự thôi thúc và đã mua một bó hoa hồng trắng và đi thẳng đến nhà quàn nơi tang lễ của người thiếu phụ đang diễn ra và mọi người đến nhìn mặt người quá cố lần cuối cùng. 

           Cô nằm đó, trong cỗ áo quan, cầm trong tay một cành hồng màu trắng với tấm ảnh của cậu bé và con búp-bê được đặt trên ngực của cô. 

           Tôi rời nơi đó, nước mắt đoanh tròng, cảm giác rằng đời tôi đã vĩnh viễn thay đổi. Tình yêu của cậu bé dành cho mẹ và em gái cho đến ngày nay thật khó mà tưởng tượng. Và chỉ trong một phần nhỏ của một giây đồng hồ, một gã lái xe say rượu, hay người lái xe bất cẩn, đã lấy đi tất cả những gì thân thiết nhất của đời cậu.


           “Chỉ một chút thiếu cố gắng sẽ luôn là nguyên nhân gây tổn thất ”.

                                                   Robert A. Schreiber    -
   TG chuyển ngữ. 

.
 

21 tháng 10, 2014

TÔI CƯỚI VỢ


          Hồi học lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ), tôi có đọc đâu đó truyện ngắn tựa  là "Lấy vợ miền quê", của tác giả nào tôi quên. Tôi rất khoái truyện  ngắn nầy và định bụng lớn lên mình cũng “lấy vợ miền quê” như tác giả kia.
Nói thì hơi xấu hổ, vừa đậu Tú Tài phần hai, lúc đó tôi mới 18 tuổi  tây, tức 19 tuổi ta, mà tôi đã..."muốn vợ"! Con trai mà “muốn" chuyện  gì thì thường vòi vĩnh với mẹ, như chiếc xe đạp, đồng hồ, quần áo mới,  kể cả chiếc solex cáu cạnh tôi đang chạy, mà chỉ hàng “thiếu gia”... ở   tỉnh như tôi mới có.

          Những thứ đó tôi đều manh dạn nói với mẹ, và lần nào cũng vậy, mẹ tôi  không cần suy nghĩ mà “ô kê” liền. Còn cái vụ "muốn vợ" nầy, tôi có  miệng mà chẳng thốt nên lời! Tôi định bụng lúc nào mẹ vui và khi chỉ  có hai mẹ con ở nhà thì tôi "tâm sự" liền. Mẹ lúc nào lại không vui!

          Vả lại tôi là con một trong gia dình, chỉ cần ba tôi đi uống cà phê  hay đi đâu đó thì có biết bao nhiêu dịp… may!
Thế mà khi thấy mẹ ngồi, tôi vừa xề lại thì bao dũng khí đã tiêu tan!
Bao lần như vậy, dường như bà để ý, giọng ngọt ngào cố hữu:
- Gì đó con trai cưng? Muốn gì nữa phải không?
Lúc đó tôi chỉ cần một “gờ-ram” dũng khí, thêm một tiếng "vợ" sau   tiếng "muốn" của me tôi thì đòn cân cục diện đâu lại vào đấy rồi.
Đàng nầy tôi lại nhút nhát, rụt rè! – Điều nầy, vốn không phải là bản  tính của tôi:
- Dạ... có "muốn" gì đâu mẹ!
Trả lời xong tôi thấy ấm ức, giận mình sao quá yếu gan! Thì may thay,  vợ chồng anh hai Trân tới chơi. Anh với tôi là chú bác ruột tôi. Hai  Trân là con trai trưởng của bác hai, còn cha tôi đến thứ chín, nên ảnh  nhỏ hơn cha tôi chẳng bao nhiêu. Anh rất vui tính, cởi mở, lẹ làng,  sốt sắng. Cái gì cũng chịu hoạch toẹt, không chịu úp úp mở mở, nên có
khi hơi lố lố. Vậy mà tôi lại quý mến anh ở điểm nầy nhất, mới lạ!
Chưa chào hỏi mẹ tôi, anh nhìn tôi bôm bốp:
- Đậu (Tú Tài ) rồi hả mậy? Là người lớn rồi, cưới vợ được rồi đó nghen!
Thuở đó đậu Tú Tài cũng oai lắm, kiếm việc làm dễ như chơi. Trong thân  tộc có người đậu tú tài là niềm hãnh diện chung. Nghe anh nói, tôi  khoái chí tử, nhưng cũng làm bộ:
- Mới bây lớn mà có vợ gì anh ơi!
- Sao lại “bây lớn"? Hồi tao cỡ mầy là con cu biết gáy rồi. Mầy hỏi   chú chín....
Chị hai thúc mạnh vào hông chồng:
- Nói bậy không hà! Thím chín kìa!.. Chú nó còn nhỏ...
- Nhỏ nhỏ cái gì? Cỡ tuổi nó tôi có con rồi!
Tôi mỉm cười, thấy thích anh lạ! Anh hai quay sang mẹ tôi:
- Thím chín! Em lớn rồi nghen thím. “Nam đại bất hôn như liệt mã vô  cương”đó thím. Em nó đẹp trai, học giỏi, nhà giàu, mà thím không chịu  cưới vợ cho nó là có ngày có người bồng cháu nội về cho thím nuôi đó!
Chị hai nạt:
- Nói bậy không hà! Cái tật không bỏ!
Anh hai nói chuyện thường chêm vào mấy câu chữ nho, những lần đó tôi  cũng bực mình, vì có câu tôi cũng không hiểu nghĩa rõ ràng.
Câu anh vừa nói tôi hiểu, xem ra nó cũng hay đó chứ! Còn chị hai, là  người phụ nữ nết na, đẹp lại hiền, hay kìm chế chồng những khi anh quá  trớn. Đặc biệt lần nầy tôi lại thấy chị hơi… quá trớn!
Mẹ mỉm cười:
- Biết nó chịu không mà cưới?
Tim tôi đập thình thịch. Không ngờ diễn tiến lại thuận lợi như vậy. Mẹ  nói thế tức là nếu tôi "chịu" thì mẹ cưới chứ gì? Ôi con đường... cưới  vợ sao mà hanh thông như vậy!
Anh hai quyết liệt:
- Sao lại hổng chịu thím? Hỏng lẽ nó muốn vợ nó lại la làng lên sao?
Hồi trước con muốn vợ, con cũng đâu dám nói cho má con mà phải nhờ chú  chín mở hơi giùm. Thím quên rồi sao?
Quay qua tôi, anh dịu giọng:
- Nè cưng, anh hai hỏi thiệt nghen, cưng có muốn cưới vợ không?
Phải nói là nhờ anh hai mà lòng tôi tràn dũng khí. Tôi quyết không bỏ  lỡ cơ hội. Chỉ cần tôi nói một tiếng "muốn" là bài toán có đáp số  ngay, và bao nhiêu đè nén trong lòng bấy lâu chắc chắn giờ đây tan biến!
Nhưng như vậy xem phàm phu quá! Tôi cười cười, đợi cho mọi người chờ  một lát, thần khẩu xui tôi phát ra một câu quá tuyệt vời:
- Thì hồi trước anh hai sao thì giờ em vậy thôi!
Mọi nghười cười rần và mang ý nghĩa khác nhau. Tôi cười cho... đở mắc  cở. Chị hai cười xòa góp phần vui; anh hai cười ngất, cười sặc sụa của  người thích chí; còn mẹ thì cười hiền hòa, sung sướng, lấy tay áo chậm  hai khóe mắt rưng rưng. Tôi thấy thương mẹ vô cùng, sà vào lòng mẹ. Dù
là một cậu tú, nhưng với mẹ, tôi vẫn thường thích mẹ vuốt ve như thuở  lên ba. Mẹ vò tóc tôi, nói với anh chị hai:
- Bây thấy hôn? Nó làm còn như nhỏ lắm vậy!
Mẹ hỏi tôi:
- Bộ con có để ý bạn gái nào ở trường hả?
Tôi lắc đầu. Mẹ bảo:
- Vậy thì mẹ biết ai mà cưới cho con?
Anh hai nhanh nhẩu:
- Thì làm mai! Hồi trước chú chín cũng vậy, con cũng vậy. Có ai thương yêu ai trước đâu? (liếc sang chị hai) Chừng về ở chung cũng khoái thấy  mồ...
Anh phủi bàn tay chị hai định nhéo vào hông anh:
- Vậy chớ hỏng phải sao?
Rồi quay sang tôi, anh lại ngọt ngào và xôm tụ:
- Nè, bây giờ em chưa quen ai phải không? E hèm! Hồi trước anh cũng  vậy thôi. Có sao? Nhưng em phải cho thím chín và anh chị hai đây biết  mẫu người em ưng thế nào thì ở đây mới kiếm cho em được chứ! Thí dụ,  hồi trước anh ra tiêu chuẩn là phải vừa đẹp, vừa hiền, vừa có chút học vấn.
Em thấy hôn, chị hai đúng bon tiêu chuẩn đó, Anh thấy là khoái liền.
Hề hề…!
Tôi thấy mặt chị hai đỏ lên vì sung sướng:
- Nói không biết mắc cở....
Sẵn đà, tôi tiếp:
- Mà phải ở miệt vườn nữa em mới chịu.
Anh hai có vẻ cụt hứng, còn mẹ thì có vẻ vui:
- Phải đó à bây, con gái ở vườn nó nết na, thùy mị, giỏi giang.
Anh hai cười. lại xông xáo:
- Trúng tủ bả rồi! Mà cũng dễ thôi! Thím bán tạp hóa lớn, mối mang  miệt vườn biết bao nhiêu, nhờ họ mối lái giùm.
Chị hai:
- Sao hăng hái dữ! Mai mốt anh hai chịu lạy đó nghen!
- Tất nhiên! tất nhiên!
Thói thường người ta tin tưởng vào những gì mình hy vọng, và sợ mất  những gì mình có. Mẹ đã xong rồi, còn ba thì sao? Ba thường hay chìu ý  mẹ dù đôi khi ý mẹ có đôi chút ông chẳng hài lòng, nhưng đó là những  việc nhỏ đời thường, còn đây là "hôn nhân đại sự", liệu ba có còn chìu
mẹ hay không?

          Ngày hôm sau, tôi thấy ba có vẻ khác khác - vậy là mẹ nói với ba rồi!
Ba ít nói, có chiều nghĩ ngợi. Khi giáp mặt tôi, ba mỉm cười khó hiểu.  Phúc hay là họa đây!
          Rồi ngày tôi chờ đợi cũng đến. “Phái đoàn” gồm ba mẹ, anh chị hai và  tất nhiên có vai chánh là tôi. Thật khó tả được bao cảm xúc bồn chồn  lo lắng, hồi hộp, đủ thứ lộn xộn trong lòng tôi. Mẹ tôi cứ dặn dò đủ  mọi việc, hết chuyện nọ tới chuyện kia, đến nỗi khó mà nhớ hết; còn  anh hai thì cứ lải nhải bên tai "bình tỉnh, bình tỉnh, đừng có run". Nhà ông nhạc tôi (tạm gọi vậy) ở xã Ngũ Hiệp, cách thành phố Mỹ tho 30
cây số về hướng tây. Chợ Ngũ Hiệp nằm bên kia sông, muốn qua phải nhờ  một phà nhỏ. Từ chợ, theo lời bà mai, chúng tôi phải đi bộ thêm gần  ngàn mét nữa. Nghe vậy anh hai nói với tôi:
- Như vậy là "vườn trong vườn" rồi phải không cưng? Tiêu chuẩn một đạt  hai trăm phần trăm rồi hén!
Chị hai cau mặt:
- Cái ông nầy lúc nào cũng đùa được.
Thật vậy, đây là vùng trù phú đất đai, cây lành trái ngọt. không biết  cơ man nào là cây trái quả mọng trĩu cành! Cam, bưởi, sa bô, dừa, vú  sữa, nhãn, chôm chôm... nhất là sầu riêng cây nào cây nấy chân tay đeo  đầy nghẹt quả, theo gió thơm lừng. Bà mai chỉ tay về căn nhà ngói kiểu
xưa (kiểu "chữ đinh") nói:
- Nhà đó đó.
Tất cả dừng lại “hội ý”. Mẹ khẩn trương thấy rõ, lại dặn dò:
- Nhớ những gì mẹ dặn nghen con!”
- Dạ!
Anh hai cũng thì thào:
- Nhà cất kiểu nầy mà gặp ông già củ tỏi thì mệt lắm à nghen!
Chị hai nạt nhỏ:
- Ông lo cái miệng ông đó. Vô đó nói bậy đi!

Bà mai vô trước, mẹ sửa lại áo quần tôi chưa xong thì có người ra mời  vào. Giờ phút nầy tôi càng thấy tình mẫu tử bao la như thế nào. Mẹ hồi  hộp như sắp bước vào nơi hang hùm nọc rắn không bằng, lại điệp khúc  "Nhớ nghe con!" lại phát ra!
Vừa vào cỗng, tôi bị hốt hồn vì hơn hai chục cặp mắt, đủ hạng tuổi,  nhiều nhất là trẻ em chăm chú vào tôi, một bà trạc tuổi mẹ có lẽ thông  cảm được điều ấy, bèn rầy đám nhỏ:
- Nè, mấy đứa làm gì tụ tập lại đây dữ vậy? Có đi hết không?
Đám trẻ tản đi vài bước rồi bẽn lẽn đứng nhìn. Phòng khách được bài trí hai bàn. Bàn giữa gồm ba mẹ tôi, bà mai, ông
bà nhạc và hai vị cao niên. Bàn bên có anh chị hai tôi và bốn người  bên gái cùng trang lứa.
          Phần tôi nghe lời mẹ là không được ngồi, mà đứng sau ghế cha mẹ, hai tay xếp lại để dưới bụng (nếu đã mời trà xong), tư thế y như lính hầu  ở phủ huyện, hay các thái giám ở cung đình hầu hạ đức vua!
Theo cách nói chuyện… lại có dịp đứng trước nhạc phụ mẫu; tôi biết ông  bà là người cởi mở, dễ tính. Câu chuyện của hai "sui" càng lâu càng  khởi sắc tốt đẹp. Dần dà khách khí không còn, mà như đã quen nhau từ  trước vậy.
Bỗng Ông nhạc gọi:
- Con hai đâu, châm trà mới đi con!
Một tiếng "dạ" thảnh thót không kém Điêu Thuyền thời Tam Quốc từ nhà  dưới vọng lên làm tim tôi rộn ràng. “Phái đoàn” nhà trai ai cũng hồi  hộp chờ đợi. Bởi ai cũng biết bảo “châm trà” chẳng qua là lời nói khéo  cho con mình ra chào để nhà trai “coi mắt” đó thôi!
Mẹ quay lại nhìn tôi mỉm cười, thầm bảo ”hãy xem kỹ vì thời gian không  lâu”. Tôi chưa kip mỉm cười với mẹ thì rèm hoa lay động, một kiều nữ  vận bộ bà ba, không phấn không son mà má phấn môi hồng.Tóc dài phủ  long gọn gàng bởi chiếc kẹp vàng có đính bông hồng chói lọi. Thoạt  trông, tôi giật nẩy người, đến nỗi bố vợ nhìn thấy. Đợi giai nhân chăm
trà xong, ông vội bảo:
- À quên nữa, cháu qua bên ngồi uống nước, hay cứ ra ngoài dạo cho thoải mái.
Mẹ lại quay ra tôi, nhướng mày, thầm bảo “hãy đi đi con”, vì thực ra,  ông nhạc cũng ngầm ý cho tôi và vợ tôi gặp nhau để “tìm hiểu”, dù thời  lượng ít oi, nhưng nếu tri túc ắt tiện túc mà thôi! Mọi sự đều được  người lớn sắp xếp có bài có bản và, có màn có lớp hẳn hoi!

          Không khí bên ngoài thực thoải mái. Nhiều loại cây trái lớn nhỏ thi  nhau che rợp ánh mặt trời làm mát rượi cả một không gian rộng. Vài tia  sáng yếu ớt cố gắng chen vào đất tạo thành những đóm trắng lưa thưa  đây đó tựa rãi hoa. Mùi sầu riêng thơm lừng. Hàng sa-pô thẳng tắp trái  nặng sai oằn. Mấy nhánh ổi cho trái bóng láng no tròn, rục mềm rơi  rụng tứ tung, tỏa hương thơm bát ngát. Chim hót líu lo, bướm vờn thẳng cánh.
Đàn ong tranh nhau hút mật của trăm ngàn hoa đủ sắc đủ màu. Rõ ràng là  vùng đất lành thừa mứa cây lành trái ngọt.
Bên sau một giọng êm đềm:
- Biết người ta ưng hay không mà dám đi hỏi vậy?
Tôi quay lại, thì ra là vợ tôi, (tạm gọi vậy), mà cũng là Vi, người đã  làm tôi kinh ngạc đến đánh thót cả người khi nãy!
Vi là bạn học cùng lớp với tôi hồi năm đệ tứ. Hồi đó lớp đệ tứ được xem là cái “móc” của sự chia tay. Bởi con trai, nếu thi rớt thì cha mẹ  thường cho nghỉ để học nghề, còn thi đậu (cấp bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp) thì cũng mỗi người một hướng đi: Vào sư phạm hoặc  gành nghề nào  đó, hoặc học tiếp ba năm nữa để lấy Tú Tài rồi lên đai học. Con gái  thì ít người được học đến chốn đến nơi. Rớt hay đậu cũng  th ường bị cha  mẹ cho nghỉ mà lo phụ việc nhà, viện lẽ con gái “học cao” khó có  chồng! Vi cũng nằm trong số phận nầy. Bởi vậy cuối năm đệ tứ, chúng  tôi thường trao nhau lưu bút, mọi người đều nắn nót tuồng chữ cho  trang mình thường tặng cả ảnh, dán vào giữa trang viết, dưới đề:
"Thương nhau mới tặng ảnh nầy,
Để làm kỷ niệm những ngày xa nhau'
Dù cho ảnh có phai màu,
Cũng đừng xé bỏ mà đau lòng người!”


Không biết bốn câu thơ ấy là của tác giả nào, sáng tác tự bao giờ, mà  đến nay, thỉnh thoảng tôi lại thấy sau bức ảnh ”tặng nhau” của các em  cũng có đề như vậy.
Hơi lạc đề, nhưng nói thêm cho vui: Hồi đó tôi cũng có quyển lưu bút,  tất nhiên khi ai nhận thì cũng nắn nót từng chữ và giữ sạch sẽ như nói  ở trên. Khi tôi đưa cho thằng Nhứt, ngày sau nó trả (thường thì vậy),  nó viết vào trang đôi mấy chữ tổ bố: “Lưu niệm làm cái xê bình phương
gì?" (2), rồi láu cá ký tên giáp cả hai trang giấy!
Tôi xem giận run. Cự nó. Nó cười: “Để sau nầy mầy nhớ tao”.
Tôi nghe cũng xìu lòng. Quả thật, đến giờ, nó là người tôi nhớ nhất.
Và đến ngày cuối, chúng tôi tổ chức tiệc liên hoan cuối khóa tại lớp.
Văn nghệ xung quanh các bài hát về “mùa chia tay”, “tạm biệt”, “nỗi  buồn hoa phượng”... Tôi có sở trường ngâm thơ, ngâm hai bài thơ Đường  luật, bài đầu của thầy H.C, giáo sư sử địa (3), bài nầy tôi chỉ nhớ  hai câu cuối:
“...
Rồi đây nếu chẳng sau mùa phượng,
Tất cũng mai kia ở chợ đời!”


Và bài họa của tôi:
"Việc cũ, ngàn sau vẫn đổi dời.
Chút tình tâm huyết nói sao vơi?
Luyến lưu kẻ ở đôi dòng lệ,
Tiếc nhớ người đi một góc trời
Chín tháng vui buồn trong một lớp,
Vài giây ly biệt rẽ ngàn khơi,
Đường mây một kẻ hanh thông bước,
Một kẻ lang thang giữa chợ đời!
(Thơ Kha Tiệm Ly)


          Đám con gái mắt đỏ hoe, có đứa khóc thành tiếng. Chúng tôi lai tặng  quà lưu niệm cho các bạn “nghỉ luôn”. Tôi tặng Vi cái kẹp tóc bằng  vàng 14 (tôi là... “thiếu gia” mà! Vàng hồi đó rẻ lắm, đàn bà con gái  chẳng thấy ai đeo, có đeo thì cũng sơ sài, đeo nhiều mắc cở, bị coi là  “quê”; không thấy ai đeo cục cục như giờ. Vi tặng lai cho tôi cây bút  Pilot nắp vàng, loại cao cấp nhất thời ấy.
- Sao không trả lời?
Vi nghiêm trang như thuở nào, tôi hơi chột dạ:
- Thật lòng tôi không ngờ mình đi hỏi cưới Vi. Đã bao năm rồi, vả lại  lúc đó mình còn nhỏ cả mà!
- Bộ mấy năm qua không nhớ chút gì về Vi sao?
- Vẫn nhớ về người bạn nhỏ hiền lành, nhiều nước mắt.
Vi vừa đưa tay rút cây viết trên túi áo tôi, vừa nói:
- Xin lỗi nghe, cho Vi mượn.
Rồi xoay cán viết, nhìn những dòng chữ khắc trên ấy, Vi có vẻ xúc động:
- Vẫn còn giữ của Vi à?
Tôi không đáp, nhìn hai rèm mi chơm chớp, tôi thấy Vi đẹp não nùng.
Tôi nắm lấy tay Vi:
- Không ngờ lại gặp lại Vi. Chẳng phải không có duyên số hay sao? Vi  đồng ý nhé!
Vi tủm tỉm cười:
- Nếu em không ưng thì sao?
- Thì anh về, nhưng xin gởi trái tim anh lại.
Lại cười:
- Rõ là thi sĩ! Em đã đồng ý từ khi bà mai nói chuyện với ba mẹ, đâu  phải đến bây giờ.
- Không biết mặt làm sao ưng?
Vi kéo mái tóc về phía trước ngực:
- Khờ quá đi! Mọi người ở đây ai không biết con trai một của tiệm tạp  hóa Vạn Phát, chứ em thì rành lắm. Vị “công tử” ấy còn tặng cho em  chiếc kẹp xinh đẹp nầy nữa phải không?
Trên đường về, mẹ luôn miệng với ba:
- Con nhỏ xem nết na và lịch sự (4) ghê ông há?".
Lại lo ngại:
- Hổng biết nó có ưng thằng con trai cưng tôi không nữa?”
Nãy giờ tôi lặng thinh, nhớ lại những lời nói của Vi mà thấy lòng hân  hoan lạ. Nhưng thấy mẹ cứ lo lắng mãi, tôi mói nói:
- Chắc ăn rồi mẹ ơi! Mẹ đừng lo!
Mẹ nghi ngờ. Anh hai nói:
- Hồi nãy ngoài vườn tụi nó nói chuyện, chỉ cần khi về, đá lông nheo một cái là kể như xong. Thím lo gì!
Ba châm vào:
- Hồi trước bả cũng vậy, sao bả mau quên quá!
Không biết mẹ đánh hay phủi bụi cho ba::
- Cha già mất nết!

oOo

          Thế là chậm lắm khoảng một tuần, mươi ngày tôi đều đến tham nhạc gia,  nhạc mẫu. Ba mẹ vợ tôi đều nhân hậu, nghiêm khắc với con cái nhưng xem  chừng ”dễ” với thằng rể tương lai.

Trước khi đi, ba tôi dặn. Con đến đó thấy cái gì làm được thì làm, chứ  đừng lấy mắt ngó là không được! Ngày xưa trước khi cưới, phải làm rể  ba năm: Chẻ củi, vác lúa, cày bừa, làm đủ thứ nặng nhọc, chứ chẳng phải  chơi đâu!
          Nhưng tôi biết cái gì mà làm, mà phụ? Lần đầu đến, tôi thấy ba vợ tôi  đang chài cá, thấy tôi sựng rựng, ông hiểu ý, nói:
- Con đứng chơi, ba vãi vài chài nữa ba vô.
Thế coi sao được! Đợi mỗi khi ba kéo chài lên, tôi phụ gỡ cá, mà có  được đâu! Tôi đụng tới con nào thì con ấy giãy rồn rột, rách cả tay,  có khi phóng lại xuống mương; trong lúc ông bỏ vào giỏ lia lịa như bỏ  đá vào vậy!

          Một lần thì thấy ông đang chiết nhánh cây, cái nầy tôi càng mù tịt,  nhưng cũng có việc làm là... đưa dây cho ba tôi cột “bầu”; cái công  việc không cần người phụ tá!
Ba vợ tôi rất điệu đời, ông thường bảo vợ tôi dắt tôi ra vườn xem có  “cái gì nó thích thì hái nó ăn”. Tôi biết ba tạo điều kiện cho chúng  tôi chuyện trò. Ông dư hiểu, bởi nói tiếng là thăm cha mẹ vợ, nhưng  chủ yếu của chàng rể tương lai nào cũng là thăm... vợ cho đở nhớ mà thôi.
Nếu không, tại sao mỗi lần đến thăm mà cha mẹ vợ đi vắng thì chàng rể  lại hớn hở trong lòng!?
          Vườn nhà vợ tôi đủ loại cây nên có trái quanh năm, chúng chen chút  nhau nên chỉ cách hơn mười thước là không thấy dáng người. Tôi có cảm  tưởng như hoàng tử gặp công chúa trong rừng vậy! Đến hàng dừa tơ, quày  ôn trĩu trái màu vang rực, sai oằn đụng tới mép mương, Vi đưa tôi dao,
bảo:
- Chặt dừa uống nhé!
- Trái nào đây?
- Thì tùy chọn
Khổ sở lắm tôi mới đem được hai trái dừa rời quày được. Dùng dao chặt  phần đầu có cuống. Dao bén ngót mà tôi phạt năm bảy nhát liền mà vỏ  dừa chỉ dập dập, trầy trầy, tung mấy miếng văm! Vi cười khoe hai hàm  răng đều như hạt bắp:
- Để nô tì giúp cho, thưa công tử!
Giành lấy dao, Vi chỉ phập ba nhát nhẹ nhàng mà vỏ dừa tách ra từng  mảng lớn, nhát thứ tư, nhẹ hơn, chạm vào gáo, Vi thuần thục lách nhẹ  lưỡi dao, để lộ phần “cái” trắng bóc mịn màng, bao quanh phần nước  sóng sánh trong veo! Một tay đưa dừa cho tôi, tay kia chỉ chỉ vào trái  dừa
bảo:
- Chặt dừa phải chặt đầu lớn nầy nầy, Lưỡi dao phải để hơi xiêng. Ai  đời ở trên bổ xuống... 90 độ. Làm sao đứt được?
Lợi dụng tôi nắm lấy cổ tay tròn trịa mịn màng của Vi, ghé mũi xuống hít một hơi dài. Vi vẫn để yên nhưng bặm môi:
- Có thấy con dao ở đây không thì bảo?
Rồi cùng cười, tôi hít mũi chọc:
- Còn ngọt hơn cả nước dừa!
Đến địa phận chuyên canh sầu riêng. Ôi! hàng hàng thẳng tắp. Không biết cơ man nào là trái đậu trên cành! Toòng teng nhỏ to đủ cở, lủng  la, lủng lẳng tầng thấp tầng cao, xem vô cùng ngoạn mục. Tôi hỏi:
- Nghe nói sầu riêng chỉ rụng về đêm, phải không?
- Sao lạ vậy?
- Thì ... trời khiến để đừng bể đầu người!
Vi cười ngoặt ngoẽo:
- Sao trái dừa vẫn rụng ban ngày? Bộ trái dừa không làm bể được đầu  người? Chủ vườn nòi vậy để cho mấy thằng ăn trộm không dám lẻn vào đó  thôi!
Rồi chỉ vào phía trước, bảo:
- Có hai trái rụng kìa! Anh lại lượm đi! Coi chừng nó "bịch" một cái là hết có vợ đo.o..ó!
Tôi nhìn lên, thấy hàng trăm trái lòng thòng, gai tua tủa, giống như  những quả chùy của các võ tướng ngày xưa. Nói dại, nếu nó mà"phịch" xuống một cái như lời Vi nói thì dù không bể đầu, thì mặt mũi chắc  cũng khó coi! Dợm chạy đi, bỗng luồng gió quái ác từ đâu lùa tới, bèn  chột dạ, tôi dừng lại. Vi cười ngất:
- Coi vậy mà cũng sợ mất vợ hén!
Tôi chữa thẹn:
- Vậy chớ vợ như Tây Thi thì chết sao dành!
Má Vi càng đỏ thêm, nắm tay lại giá giá vào tôi:
- Cái tật nịnh.......
Tôi vừa dặt hai trái sầu riêng xuống thì Vi bảo:
- Tách ra đi!
Nói đoạn lại bờ rào tìm hái những nhánh bông. tôi lui cui lấy dao chặt  phình phịch vào đầu lớn trái sầu riêng, dao cũng để xiêng một góc mà  xem ra vỏ sầu riêng còn dai hơn cả vỏ dừa. Thật tình, sầu riêng tôi ăn  có hàng trăm nhưng mỗi lần đều được mẹ bóc sẵn bỏ vào tủ lạnh, nên có  biết gì đâu!

          Tôi lật qua, lật lại, chợt nhớ tới cái vỏ sầu riêng mẹ bóc xong đâu có  trầy trụa, hay mất một góc đàng đầu trái, mà xem ra nó còn nguyên vẹn  giống như một chiếc xuồng! Tôi sửa lại rồi dùng dao bổ theo chiều dọc,  cũng chẳng ăn thua! Mệt, tôi định gọi cầu cứu, thì Vi đã đứng sát bên  tôi bụm miệng cười tự lúc nào...
Rõ ràng là Vi biết tôi không làm được mà cố chọc chơi! Bèn ngồi xuống,  lấy dao, vừa làm vừa dạy đời:
- Hồi nãy em bảo công tử “tách” ra chứ có bảo “chặt” đâu mà làm như  bửa củi vậy? Đây nè, chỗ nầy lúc nào cũng có một khe hở. Chỉ cần để  mũi dao vào đây rồi dùng đòn bẩy Ạc-Shi-Met là xong. Làm rể kiểu nầy  mất vợ như chơi.
Tôi bá lấy cổ Vi:
- Giỏi quá, để anh thưởng cho một cái.
Vi nhắm mắt, lắc đầu quầy quậy:
- H..ô..ông..!
Đợi khi tôi “chụt” xong, Vi mới mở mắt ra, chỉ tay vào vỏ sầu riêng, nói:
- Cái vỏ sầu riêng nầy mà vô mặt thì còn hơn té thùng đinh nữa đó!
Lần nào cũng có chuyện tương tự như vậy, thử hỏi sao tôi không khoái  về thăm... ông bà nhạc?

          Gần tới ngày cưới, tội nghiệp Vi gầy thấy rõ. Sau nầy tôi mới biết, là  con gái trưởng trong gia đình, Vi lo lắng sắp xếp mọi thứ, lại nghĩ  tới ngày theo chồng, xa mẹ bỏ em nên đủ thứ tình cảm ray rức trong lòng. Vậy mà trò chuyện với tôi một hồi, mặt hoa lại rạng rỡ, nói nhỏ cho  tôi vừa nghe, như một chuyện gì quan trong lắm:
- Làm rể mà lỏng nhỏng không động móng tay, cứ đeo sát con gái người  ta hoài không sợ bà con họ nói sao?
Ba vợ tôi thường bảo tôi: “Con ở chợ không quen việc ở vườn. Con cứ về  thăm, khỏi làm gì hết, đừng ngại, cứ coi như ở nhà con”.
Tôi đem lời nầy nói cho vợ nghe, rồi châm thêm:
- Vậy chứ anh có việc gì để làm?
- Em chỉ cho. Gần tới ngày cưới rồi, phải có củi để nấu chứ! Hay là  anh chịu khó ra chẻ một mớ....
- Ở đâu?
Vi chỉ tay về một hàng củi được chất ngay ngắn từng ô một, dài chừng... vài chục mét, khúc nào khúc nấy cở bắp đùi... voi. Tôi chột dạ:
- Chẻ hết sao?
Vi làm mặt nghiêm:
- Ừa!... thì tới đâu hay tới đó! Ngày còn dài mà!....
Tôi xách búa đi mà tác phong rời rã như Hạng Võ tại bến Ô Giang! Nhưng  muốn ăn phải 
lăn vào bếp, muốn cưới được vợ thì phải bửa củi, cày bừa…  Thì ra lời ba tôi nói chẳng sai, bằng chứng là tôi cũng không ngoại lệ!

          Tôi cởi áo sơ mi máng trên cành bưởi, còn lại chiếc áo thun ba lỗ  trắng tinh, vốn là mô đen của con nhà giàu mới có áo lót bên trong. Dù  là “công tử”, nhưng tôi thường tập tạ nên bắp thịt coi cũng ngon lành.

          Tôi đếm thầm: Một, hai, “phập!”; một, hai “phập!” Có cái “phập” làm  củi vỡ ra, có cái “phập” thì búa lại dính khắn vào củi, gỡ ra cũng  tróc vải trầy vi! Khi độ mệt đã choáng váng mặt mày, nhưng còn đủ để  nhận được tiếng ông nhạc ở sau lưng:
- Bây làm cái gì vậy?
Tôi quay lại chào ông bà vừa đi xóm về, rồi trả lời với giọng điệu của  người vừa lập nên công trạng:
- Dạ, vợ con biểu chẻ củi để khi đám cưới có mà xài!
- Thôi, thôi! Bây “bị” nó rồi! Đi vô! Đi vô uống nước con!
- Dạ, để con chẻ thêm một mớ nữa, ba!
- Củi nầy ba để bán cho lò bánh mì, đâu cần chẻ! Còn củi dùng cho  đám cưới thì để trong nhà kho kia, có xài mười đám cũng không hết!
Bà nhạc lắc đầu:
- Cái con nhỏ nầy…
Vào nhà bà nhạc rầy Vi:
- Chồng của mầy nó không quen làm việc nặng. Xúi dại rũi nó trợt chân  trợt cẳng thì sao?
Bà nhạc dùng tiếng “chồng mầy” tôi thấy ấm áp lạ lùng! Còn vợ tôi thì  chúm chím cười, còn liếc qua tôi với ánh mắt còn bén hơn... lưỡi búa,  lại chu đôi môi đỏ ao chế nhạo.
Thế là bao mệt mỏi trong tôi biến mất tiêu!
                                                                                          Phải nói trong đời thường, về sự thông minh, lúc nào vợ cũng hơn tôi  một phép. Khi về làm dâu vợ tôi đã chứng minh đầy đủ điều đó. Ngoài sự  hiếu thảo với cha mẹ chồng, vợ tôi còn nhiều đức tính như  hân hậu,  cần kiệm...

          Thuở đó, ở thành phố “nhà giàu” mới có tủ lạnh (ti vi chưa có), còn  dưới quê thì tuyệt đối không, bởi có điện đâu mà xài! Nên những ngày  đầu, tủ lạnh đối với vợ tôi là một phát minh khoa học lớn lao, nó đủ  công năng, nên có cái gì cũng “thồn” vô trong đó.  Có lần mẹ tôi mở tủ  lạnh, rồi nói với vợ tôi:
- Tô mắm nêm nầy, con đừng có để vào đây, nếu không tất cả cái gì  trong nầy đều có mùi mắm nêm hết.
Chỉ chờ có dịp nầy, tôi cười hí hí:
- Trái cây mà có mùi mắm nêm ăn càng ngon chứ sao mẹ?
Mẹ cười, còn vợ tôi cứ đem cái sở trường là bắn nửa mắt vào tôi.
Tôi khoái chí, nói theo kiểu đá banh thì “gỡ” được một, nhưng dường  như chỉ có một mà thôi!
Khi con chúng tôi đã lớn, tuổi có thể về quê thăm ngoại một mình, thế  mà một tối cả nhà xem ti vi, không phải nhằm đoạn hài mà vợ tôi cười  ngất. Con hỏi, “sao tự nhiên mẹ cười?” Một lát vợ tôi mới trả lời được:
- Mẹ thấy bộ tướng ông thái giám đứng khúm núm kia giống"mấy thằng  cha“ lần đầu coi mắt vợ quá!” Hi! Hi!
Biết bị xỏ ngọt nhưng tôi biết gì hơn ngoài làm...thinh! May sao đến  chương trình quảng cáo, quảng cáo tủ lạnh, tôi nói tỉnh bơ:
- Tủ lanh đời mới coi bộ tốt à nghen! Nó tự khử mùi, dù “mấy con mẹ” ở vườn có để mắm nêm vô đó cũng không sợ hôi. Ha! Ha!...
Tức thì vành tai tôi bị kéo ra cả thước, tiếp theo là một giọng tru  tréo, muốn nổi da gà:
- Trời..u.u..i! Chuyện cũ nhắc hoài! Nhắc hoài!
Vậy đó, “chuyện xưa” thì vợ tội nhắc được, còn “chuyện cũ” tôi nhắc  thì như bị muốn nhai xương!
Có vợ miệt vườn, miệt quê là vậy đó!

                                                                                        Thái Quốc Mưu
   
.
 

20 tháng 10, 2014

Thằng Ăn Cắp.

          Ở một làng nào đó bên xứ Ấn Độ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người lâu ngày, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đà xế bóng, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương.



          Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nước mát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.

          Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngang qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. Lễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa.
                                      
          Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm: “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.”

          Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói:
- Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta.
Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con:
- Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!
Bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại. 

          Người thương gia rảo bước về gần đến làng, nhìn xa xa ráng chiều êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách.
Vừa đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu:
- Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thâ
n  tôi chưa!
 Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên.....
Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh, bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi:
- Túi đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu?
Cụ già ngạc nhiên:
- Túi đồ nào của bác? Vàng nào của bác?
- Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này!
Cụ già vẫn bình thản:
- Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao? Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.
                                                        


          Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gió đưa, biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng, giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn.
                            
 
          Trước cửa treo một tấm bảng đen, với hàng chữ trắng viết to: “Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”
Người thương gia mừng quýnh đập cửa, gặp anh nông dân ra mở hỏi:
- Bác là chủ túi đồ bỏ quên trong chùa?
- Vâng, chính tôi. Tôi đã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.
- Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào? Trong đựng những gì?
Người thương gia trả lời:
- Ðó là túi vải, trong đựng một ít lương khô đi đường.
Người nông phu nói:
- Thế thì không phải túi đồ của bác.
- Thú thật với bác, cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.
Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia:
- Quả thật đó là túi đồ của bác. Xin mời vào nhận.
Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:
- Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.
Người nông dân ngạc nhiên:
- Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường, có ơn gì mà được đền?
- Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.

- Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Cũng như lòng yêu dân tộc, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần? Thôi, xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.

          Người thương gia không còn lý lẽ gì để nói thêm bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất gói vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy. Ý định của ông ta là bắt buộc bác nông dân phải nhận sự đền ơn, nhưng bác nông dân vội nhặt gói vàng rồi đuổi theo, miệng hô hoán:
- Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp.
Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt bác nông dân, hỏi:
- Hắn đã ăn cắp vật gì của bác?
- Hắn định ăn cắp cái tâm công chính và chân thật mà tôi có được từ ngày tôi học Phật