Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện đọc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện đọc. Hiển thị tất cả bài đăng

10 tháng 5, 2018

Người Vợ Mù



          Trong một chương trình radio mang tên “Nẻo về của trái tim”, một cô gái mù đã gửi cho những người làm chương trình câu chuyện của mình.
          Mong muốn của cô là được chia sẻ niềm hạnh phúc mà mình đang có và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới một người.

          Tôi là một kiến trúc sư vui vẻ, hoạt bát. Cách đây một năm, tôi là người vợ hạnh phúc nhất.
          Khi thức dậy cùng người mình yêu vào mỗi sáng, chúng tôi thường cùng nhau thưởng thức một tách trà trong không gian yên tĩnh đầu ngày.
Chúng tôi xây dựng cho mình một thói quen: sẽ luôn cố gắng chia sẻ với nhau những suy tư và cảm nhận chân thật nhất của mỗi người để gìn giữ hạnh phúc.

          Cuộc sống của chúng tôi êm đềm trôi qua cho tới một ngày. Trên đường từ bến xe buýt vào tới công ty, tôi thấy mọi thứ như nhòa đi trước mắt, chỉ còn lại những tiếng còi xe inh ỏi. Rồi tôi lập tức được đưa vào bệnh viện. Ngày hôm đó, tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng cảm giác khi nghe câu kết luận của bác sĩ:

           “Đây là một căn bệnh thoái hóa nên chúng tôi cũng không thể giúp được gì”
          Bác sĩ còn giải thích rất nhiều điều nữa, nhưng trong đầu tôi chỉ còn đọng lại duy nhất câu nói: “Cô sẽ sớm bị mù”.

          Tôi không biết các bạn sẽ cảm thấy ra sao khi đối diện với sự thật này. Còn tôi, tôi đã đầu hàng một cách hèn nhát. Tôi khóc, tôi cáu bẳn thậm chí nhiều lần gắt gỏng, đặc biệt khi chỉ có tôi và anh, trong căn nhà hạnh phúc của chúng tôi.
          Tôi đã rất sợ, sợ bị rơi vào bóng tối, sợ phải làm một người mù và sợ nhất rằng tình yêu của anh dành cho tôi cũng sẽ không còn.
Tôi không còn dùng trà vào mỗi buổi sáng với chồng nữa. Bởi tôi muốn tất cả phải chịu trách nhiệm về căn bệnh của mình,đặc biệt là chồng tôi.
Trước sự thay đổi chóng mặt của vợ, chồng tôi không nói gì, anh chỉ lẳng lặng quan sát và chịu đựng những cơn nóng giận vô cớ. Hơn thế anh giúp tôi làm mọi công việc nhà bất chấp sự phản đổi đầy ngang bướng của tôi


          Thời gian đó, ông chủ vẫn sắp xếp cho tôi một công việc nhỏ trong văn phòng. Nhờ đó, tôi có thể được ra ngoài vào mỗi sáng. Được đi làm đã trở thành niềm hạnh phúc nhất của tôi khi ấy. Công việc cho tôi cảm giác tôi không phải là người thừa, tôi được chứng minh sự mạnh mẽ của mình và thỏa mãn cái tôi đang bị tổn thương ghê gớm.
          Tôi quyết định vẫn đi xe buýt tới công ty như tôi luôn làm trước đây. Tôi biết mình đã rất quen với con đường và tôi cũng đã dần thành thục việc sử dụng cây gậy cho người mù.
          Chồng tôi đề nghị, hãy để anh đưa tôi đi làm mỗi sáng và trở về đón tôi mỗi buổi chiều.
          Nhưng tôi từ chối, tôi không muốn anh phải vất vả như vậy, bởi nơi chúng tôi làm việc cách nhau rất xa.
          Chồng tôi không phản đối, anh chỉ nói: “Hãy cẩn thận khi qua đường nhé, ngã ba đó khiến anh lo lắng hơn cả”.
Tôi giữ im lặng trước lời dặn dò của anh.
          Mọi chuyện sau đó diễn ra suôn sẻ ngoài mong đợi của tôi. Có lẽ sư lo lắng của tôi và chồng đều là thái quá. Khi dừng đèn đỏ ở ngã ba đầu tiên, tôi nhớ lại lời của chồng và bắt đầu cảm thấy sợ. Ngay lúc ấy có một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên:
           -“Cô ơi, cô có thể dẫn cháu qua đường không?”          
          Tôi quá đỗi ngạc nhiên với câu hỏi của cậu bé, hình như cậu bé không biết tôi bị mù.
            -“Cháu à, cô xin lỗi, nhưng cô sẽ không bảo đảm an toàn được cho cháu vì cô không nhìn thấy…” Tôi chưa kịp nói hết câu thì cậu bé chen vào.
-“Cháu biết cô bị mù, cháu xin lỗi ý cháu là cô không nhìn thấy, nhưng không sao. Cô là người cao lớn, những người lái xe sẽ nhìn thấy cô, họ sẽ tránh chúng ta. Còn cháu sẽ dắt cô qua đường, cháu sẽ làm đôi mắt cho cô ở ngã ba này nhé.”
          Trước lời nói ngây thơ của cậu bé, tôi thấy mũi mình cay cay. Chuyển gậy dò đường sang tay phải, tôi chìa bàn tay còn lại để nắm lấy bàn tay nhỏ bé đó. Cậu bé nắm tay tôi thật chặt. Cái siết tay của cậu khiến tôi có thêm rất nhiều tự tin. 



         Hóa ra tôi vẫn còn có ích, vẫn có thể giúp đỡ một ai đó chứ không hoàn toàn là “đồ vô dụng” như tôi luôn nghĩ về mình sau khi không còn nhìn thấy. Bên trong tôi bất giác thấy lạiđược niềm vui.

          Cậu bé quả là một người dẫn đường tài tình, chúng tôi đã quađường an toàn và dường như không làm một người lái xe nào nổi giận. Khi chia tay ở ngã ba, cậu bé nói:

           -“Cháu hy vọng mai cô sẽ lại ở đây nữa, vì sáng nào cháu cũng phải đi qua ngã ba này để đến trường. Cảm ơn cô nhiều nhé. Giờ cháu đi học đây.”

          Cậu bé chào tôi và chạy đi nhanh như một cơn gió. Trước khiđi, cậu bé quay lại, nói thật to:
           -“Hẹn cô ngày mai nhé, cháu sẽ chờ cô đấy”.

Cậu bé khiến nụ cười trở về trên môi tôi, đôi má tôi cũng ửng hồng.

          Một cảm giác ấm áp khiến những căng thẳng bao ngày qua tan mất. Có lẽ ai đó nhìn thấy tôi lúc ấy sẽ phải thắc mắc: Cô gái mù ấy sao lại cười rạng rỡ thế?
          Không để tôi thất vọng, ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, cậu bé vẫn xuất hiện và chúng tôi đã trở thành đôi bạn “chinh phục ngã ba” từ đó.
Đôi lúc chúng tôi còn nán lại nói chuyện với nhau. Tôi đã biết cậu bé thiên thần ấy (chí ít là với tôi) tên là Jimmy. Jimmy nhỏ người, mặt nhiều tàn nhang, tóc màu hung và có một cái mũi hơi kì lạ. Đó là dáng vẻ mà cậu bé tả về mình cho tôi nghe.
          Nhờ Jimmy bé nhỏ, tôi dần lấy lại niềm vui trong cuộc sống của mình. Tôi cũng đã có thể đối đãi dịu dàng trở lại với chồng, không còn nặng nề với anh nữa. Nhưng cảm giác muốn mở lòng để chia sẻ với chồng vẫn chưa trở về.

          Niềm vui của tôi chỉ kéo dài được một tháng.
          Sáng hôm đó, khi ở ngã ba tôi không thấy Jimmy, cậu bé đến muộn chăng? Tôi chợt hiểu ra rằng hình như những đứa trẻđã kết thúc năm học và Jimmy sẽ không đến trường ngày hôm nay.
          Tôi chưa biết làm thế nào để qua đường khi không có người hoa tiêu nhỏ bé, tiếng lanh lảnh quen thuộc vang lên: “Cô James chờ cháu.”
           -“Cháu đấy à, cô mừng quá, cô cứ nghĩ là cháu sẽ không đến”.
           -“Cháu không thể để cô một mình qua đường được. Đó là lời hứa danh dự. Nhưng cháu sắp theo bố mẹ về quê với ông bà rồi. Cô biết mà, trường học đã nghỉ hè và hôm nay là ngày cuối cùng cháu ở đây”.
         Tôi cảm thấy lo lắng và hơi buồn, nhưng cố trấn tĩnh. Tôi hỏi Jimmy về “lời hứa danh dự” của cậu bé, điều khiến tôi cảm thấy rất tò mò.
           -“Cháu đã hứa với một người. Nhưng chú ấy không cho cháu nói điều này với cô.”
          Chúng tôi cùng nhau băng qua đường trong im lặng. Nhưng khi tới nơi, cậu bé níu tay tôi lại, hỏi rằng tôi có thể đi với cậu bé một chút không? Tôi đồng ý và chúng tôi thả bộ cùng nhau trong một công viên gần đó. Hóa ra cậu bé muốn kể cho tôi nghe về lời hứa danh dự của mình.
          Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đã có một người đàn ông nhờ cậu bé dắt một phụ nữ xinh đẹp nhưng bị mù qua đường.

          Người đàn ông ấy giải thích với cậu bé rằng, đó là vợ chú. Cô ấy vừa bị mất đi đôi mắt và chú không thể yên tâm để cô ấy một mình đi qua con phố đông đúc này. Nhưng chú cũng không thể tự tay dắt cô sang đường, vì cô đang đóng cửa tâm hồn mình với chú.

          Nước mắt tôi bắt đầu rơi. Cậu bé tiếp tục kể.Cậu bé đã đồng ý giúp người đàn ông lạ mặt đó.
           -“Không chỉ một lần, cháu không biết tại sao nhưng khi nghe chú ấy kể về cô, cháu nhớ đến cách bố cháu nói về mẹ, đầy yêu thương. Vì thế, cháu đã hỏi chú ấy có cần cháu giúp những ngày tiếp theo không. Đôi mắt của chú ấy lúc đấy rạng rỡ như mắt cháu lúc được đi chơi hay ăn kem vậy”.
          -“Đó là lý do vì sao sáng nào cháu cũng ở đây chờ cô?”
           -“Vâng, nhưng không chỉ chờ cô, cháu chờ cả chú ấy nữa. Chú ấy ngày nào cũng đi qua đường với chúng ta mà.
          Chú chỉ lặng lẽ đi cạnh cô, cách cô một đoạn để cô không cảm thấy sự có mặt của chú ấy.
          Chỉ khi cô cháu mình sang đường an toàn chú ấy mới đi làm”. “Thật vậy sao?”.

          Tôi không còn biết nói gì hơn. “Cháu không định nói chuyện này cho cô nghe. Nhưng ngày mai cháu đi rồi. Cháu sợ cô sẽ thấy hoang mang vì không có cháu.
          Thêm nữa cháu sợ cô vẫn giận chú”. “Vậy hôm nay chú ấy có đi cùng chúng ta không, Jimmy?”
          Chồng tôi đã đứng đó từ bao giờ. Anh đã lắng nghe câu chuyện của cô cháu tôi. Tôi không biết khuôn mặt anh lúc ấy như thế nào.. Chỉ biết có một bàn tay to lớn, ấm áp và rất quen thuộc nắm lấy bàn tay tôi, nhẹ nhàng dắt tôi đi hết quãng đường từ công viên tới văn phòng.
          Sau ngày hôm ấy, tôi đồng ý để chồng chở đi làm, và buổi chiều tôi đi xe buýt về, anh đã nhờ được một người bạn trong công ty đưa tôi ra bến xe. Tôi còn được biết, công việc mà ông chủ sắp xếp cho tôi chính là nhờ anh đã tới gặp và thuyết phục ông.


          Đó là câu chuyện tình yêu mà tôi muốn chia sẻ với các bạn.

          Những ngày tháng vừa qua đã khiến tôi nhận ra rằng: Trong cuộc sống nhiều đau khổ này, tình yêu thực sự hiện hữu, và nó mang một sức mạnh chữa lành thật to lớn. Khi nghĩ về sự nhẫn nại của anh suốt thời gian cùng tôi và Jimmy sangđường, khi cảm nhận được rằng trái tim chan chứa thiện niệm của anh luôn nghĩ cho cảm giác của tôi, nghĩ đến việc làm thếnào để tôi an toàn và hạnh phúc nhất, tôi mới hiểu ra thế nào là thực sự yêu một ai đó.
          Chia sẻ câu chuyện này cũng là cách tôi muốn anh biết:
          Từ tận đáy lòng, tôi biết ơn tình thương và những điều anh đã dành cho tôi.
          Và hơn thế, anh và Jimmy bé nhỏ đã cho tôi hiểu và học được rằng yêu thương một người là dành cho người đó sự bao dung, nhẫn nại và những điều thiện lành nhất mỗi ngày.




.

 


17 tháng 4, 2018

Khi thức dậy không thấy tôi, mình đừng...


         Ông cụ quay sang nhìn người bạn già đi bên cạnh mình, ông mỉm cười:
         -Bà này, mỗi buổi sáng, dậy sớm, đi tập thể dục, nghe chim hót, ngắm mặt trời lên, có bà bên cạnh, với tôi cứ như là đã chờ đợi từ lâu lắm rồi.
         -Thì ông công tác xa, lại được giữ lại làm cố vấn, tôi ở xa ông cũng quen rồi. Có khi bây giờ ông về, tôi lại chưa quen ấy chứ!
         -Cái bà này, tôi kể cả là ở xa, nhưng khi ở bên bà, tôi có thấy lạ gì đâu? Tôi vẫn thấy lòng mình thanh thản lắm. Thì giờ già rồi, chỉ mong thanh thản thôi.
         Ngày nào họ cũng cùng nhau đi như thế. Dưới con mắt ngưỡng mộ của cả người trẻ và người già. Người trẻ nhìn ông bà mà ước: Ước gì già mình cũng được như thế. Người già thì ghen tỵ vì có người còn có người bạn đồng hành, có người thì không. Nhưng nhiều khi già rồi, lại trái tính, trái nết, mấy ai mà được tình cảm như hai ông bà. Tình già vẫn còn vương, nhất là cụ ông, cũng xấp xỉ tám mươi tuổi nhưng vẫn phong độ nhanh nhẹn lắm. Đúng là quân nhân có khác. Được rèn luyện qua gian khổ nên mới được như vậy. Còn cụ bà có vẻ yếu đuối hơn, lưng bà cũng đã không còn thẳng nữa, nhưng khuôn mặt phúc hậu khi nào cũng lấp lánh ánh cười.



         Ông kéo ghế cho bà ngồi xuống bên cạnh, còn mình thì ngồi chiếc ghế gỗ nhỏ, ông chăm chú nhìn nồi cháo đang sôi, lát lại lấy cái giá ngoáy cho cháo đỡ bị dính dưới đáy nồi. Bà bảo để bà làm cho, nhưng ông nhất định không chịu, ông cười:
         -Bao nhiêu năm, chỉ toàn bà nấu cháo cho các con tôi, cho bố mẹ tôi, bây giờ, tôi có nấu cho bà ăn tới hết đời cũng chưa thỏa lòng mà!
         Bà nhìn ông, đôi mắt nâu đã nhạt màu vì thời gian ngân ngấn nước, mấy sợi tóc bạc trắng của bà phất phơ trước mặt. Bà vén mấy sợ tóc cho gọn rồi nhìn ông:
         -Thứ tôi nuối tiếc duy nhất là khi còn trẻ chúng ta không được sống gần nhau. Ông là một người đàn ông dịu dàng. Nhưng bây giờ, ông về rồi. Với tôi thế là đủ!
         Ông nhìn bà, ánh mắt lấp lánh niềm vui, và ngập tràn yêu mến. Đúng là khi già, người ta mới cần người làm bầu làm bạn, có người sớm tối bên nhau, câu chuyện câu trò thì cùng nhau ăn bát cháo trắng cũng ấm lòng biết mấy.
         Bà nhìn giàn mướp trổ đầy hoa vàng, những con ong mật từ đâu kéo về bay vo vo trước hiên nhà. Ánh nắng buổi sáng chưa gắt, chút gió mát từ ngoài sống thổi lại khiến không khí thoáng dịu vô cùng. Bà nhắc ông:
         -Thằng cả nó bảo hôm nay nó cũng nghỉ phép đưa cả vợ con nó về đấy. Ông tính mua cái gì về làm cơm bây giờ?
         -Ôi dào, bà kệ chúng nó, nó về khắc biết mua gì mà ăn. Bà chăm nó mấy chục năm, phải để nó chăm lại bà chứ?-  Nhưng mà chúng nó về đây, biết cái gì mà mua.
Ông nhìn bà, ánh mắt cười vẫn không đổi.
         -Thì mua được cái gì, ăn cái đó!
Bà cũng cười nhìn ông:
         -Vậy thì nghe ông!
          Rồi như sực nhớ ra điều gì, bà bảo ông:
         -Quên mất, nhà mình có gà đấy, việc gì phải mua cái gì nữa.
         -Chuyện đó cứ để đấy, tôi với bà ăn cháo đã.
         Ông bưng hai bát cháo để lên chiếc bàn nhỏ ở góc sân, hai ông bà ngồi ăn cháo và nói chuyện gì đó rất vui, khiến bà cứ nhìn ông rồi tủm tỉm cười hoài. Những nếp nhăn trên mặt cứ xô vào rồi lai dãn ra, như dấu bước của thời gian, cứ im lìm, lặng lẽ nhưng không thể xóa nhòa.


         Khi còn trẻ, hai ông bà cùng mệnh kim, nên người ta nói, ở với nhau rất hay va chạm. Bà là người phụ nữ thông minh, lại chịu thương chịu khó, nhưng cũng khá bướng bỉnh, nên khi nào ông cũng là người nhường nhịn bà.
          Ông cười:
         -Thua ai mới sợ, chứ thua vợ là đương nhiên! Này nhé: Tôi làm sao mà đẻ được cho bà được hai đứa con vừa ngoan ngoãn như bà, làm sao mà một lúc chăm cả bốn đứa trẻ (ý ông nói là cả bố mẹ chồng, các cụ xưa chả có câu: Một già một trẻ bằng nhau là gì)… Ngoài ra, bà biết sửa điện, biết tháo lắp các đồ điện trong nhà bị hỏng, bà biết nấu những món ăn ngon mà chỉ về nhà ông mới được ăn …
         Nói chung là vì bà vĩ đại như thế, nên ông thua là cái chắc. Có lẽ suốt cuộc đời bà, chưa khi nào phải cãi nhau với ông. Nói ra thì chẳng ai có thể tin. Bà biết vì ông lúc nào cũng thương và trọng bà.
         Trong thâm tâm bà cũng vậy, khi còn trẻ, lấy ông vì yêu ông, và cho tới tận bây giờ, tình cảm đó vẫn không thay đổi. Ngày ấy trẻ, những lần ông về buổi tối khi nào hai ông bà cũng nằm tâm sự tới khuya, có lần bà ôm ông nói:
         -Sau này chúng mình già, anh không được chết trước em, em không muốn mình sống cô đơn một mình. Em đã sống cô đơn một mình nhiều rồi, nay mai anh về, em không muốn mình lại phải một lần nữa sống như thế. Vì vậy, nhất định anh phải sống lâu hơn em đấy! Em sẽ rất sợ nếu một sáng nào đó em tỉnh dậy và chỉ còn lại một mình. Em sẽ khóc đến hết nước mắt! Em không muốn sống cô đơn không có anh lần hai. Anh nhớ đấy nha!

         Từ đó, bà thấy ông ít uống rượu hơn, nghe nói, ông còn bỏ cả thuốc lá mặc dù ông nghiện nặng. Không phải vì ông muốn sống lâu hơn bà, mà vì ông muốn, khi về già, ông phải khỏe mạnh hơn bà để có thể chăm sóc bà, và cũng có thể, để sống bên bà tới cùng thì thôi. Ông cũng sợ phải sống một mình, nhưng ông sợ bà phải sống một mình hơn. Nhưng nỗi niềm ấy, ông không nói cho bà biết. Đàn ông thường là thế. Yêu ai yêu hơn cả tính mạng của mình, nhưng vẫn cứ lặng lẽ mình mình biết, mình mình hay.
         Từ ngày có ông về nhà, bà vui vẻ lên nhiều, sức khỏe cũng tốt hơn, bệnh huyết áp thấp của bà cũng đỡ hơn nhiều. Sáng nào ông cũng dậy sớm hơn, đánh thức bà và họ lại nắm tay nhau đi tập thể dục. Vậy mà đột nhiên mấy hôm nay, khi nào bà tỉnh dậy cũng chỉ thấy có một mình trên giường, ông thức từ khi nào? Ông đã đi tập thể dục một mình sao? Bà thầm nghĩ: Cái ông này, làm gì cũng được vài bữa (Thật ra cái vài bữa bà nói ấy cũng đã hơn ba năm rồi).
         Bà dậy, mặc thêm cái áo len, trời sang thu nên buổi sáng hơi lạnh. Bà thấy ông từ đằng xa, tay xách tùi đồ ăn sáng, khuôn mặt có vẻ đăm chiêu. Nhưng vừa nhìn thấy bà, ông lại mỉm cười ngay được. Bà nhìn ông, người đàn ông cao lớn, đẹp trai ngày nào, rồi cũng thành một ông già, thời gian trôi cứ ngỡ mới là hôm qua, nhưng thời gian cũng thật khắc nghiệt với con người và với cả tình yêu.
          Thấy vẻ mặt suy tư của bà, ông cười:
         -Bà lại đang nghĩ gì thế?
         -Tôi chỉ nghĩ không biết ông đi đâu?
          Ông cười:
         -Tôi đi mua bánh khúc của bà Dần đấy. Món này bà thích nhất mà. Gớm, bà bà ấy làm bánh khúc cỡ cũng ba bốn chục năm rồi ấy nhỉ?
         -Bánh khúc của bà ấy, thì chẳng ai làm ngon được bằng ông ạ. Từ ngày hai đứa con nhà mình mới hai ba tuổi, đã ăn bánh của bà ấy rồi. Mà ăn bánh khúc của bà ấy, thì đi ăn ở đâu cũng không thấy ngon nữa. Nhưng vừa rồi bà ấy bảo, bà ấy bán nốt tuần này thôi. Bà ấy thấy mệt rồi.
          Bà thở dài, nhìn ông:
         -Thì chúng ta già cả rồi mà. Ông nhìn xem, cây mít này tôi trồng khi thằng Hải mới được mấy tuổi, vậy mà năm nay nó cũng đã cằn cỗi rồi! Có ra được quả nào nữa đâu!
         -Cứ để nó đấy làm kỹ niệm bà ạ!
         -Nhưng sao dạo này không thấy ông dậy đánh thức tôi dậy cùng thế?
          Ông nhìn xa xa, rồi quay lại nhìn bà, ánh mắt vẫn âu yếm như thế:
         -Tôi thấy bà ngủ ngon quá, nên không đánh thức bà dậy làm gì.
         -Lần sau, ông cứ đánh thức tôi dậy đi cùng ông!
          Ông biết tâm tình của bà. Ông đưa tay nắm lấy tay bà bảo:
         -Thôi tôi với bà về ăn bánh khúc thôi!


         Nhưng tất cả những buổi sáng sau nữa, ông vẫn không đánh thức bà. Khi nào tỉnh dậy trên giường, bà cũng chỉ thấy có một mình. Lúc đầu bà có chút hốt hoảng, nhưng sau vài buổi sáng, bà biết, ông không đi đâu xa, ông chỉ đang ngồi ở ngoài sân hoặc lại đi lại mua đồ ăn sáng, nên bà vẫn thấy an lòng. Bà chỉ thấy thắc mắc, dạo này nhiều lúc vắng bà, là ông lại trâm ngâm đến lạ. Có lần bà về rồi, nhưng ông không biết, khuôn mặt ông nặng trĩu suy tư. Chợt bà thấy lòng mình có chút bất an.
         Ông đang ngồi nấu cháo bên chiếc bếp than nhỏ quen thuộc ở góc sân. Nhưng nối cháo đã trào cả ra ngoài mà ông không biết. Bà cầm chiếc áo khoác lên người ông rồi mở vung nồi cháo cho đỡ trào. Giọng bà vẫn dịu dàng như mọi khi:
         -Buổi sáng cuối thu rồi, trời sắp chuyển lạnh đấy ông ạ. Mà dạo này, tôi thấy ông gầy đi!
          Ông đưa mắt nhìn bà, miệng nở một nụ cười:
         -Bà yên tâm, tôi ốm sao được!
-Nhưng dạo này, tôi thấy ông cứ suy nghĩ đi đâu ấy!
         -Tôi thì nghĩ đi đâu được ngoài bà!
         Mấy tháng sau, người ta không còn thấy hình ảnh hai vợ chồng già dắt tay nhau đi dạo nữa. Mà chỉ thấy có một mình bà cụ đi vào mỗi buổi sáng. Khuôn mặt bà không còn rạng rỡ như ngày nào. Đôi mắt dường như mờ đục hơn, như được phủ mờ bởi một lớp sương mỏng. Bà đi quanh một vòng rồi lặng lẽ về nhà, nấu cháo, múc hai bát và đặt trên bàn. Bà ăn cháo và ánh mắt bà lại lấp lánh ánh cười.
         Một năm sau, đúng ngày ông mất, bà cũng ra đi. Khi con gái dọn dẹp đồ đạc của cha mẹ mới phát hiện ra lá thư của ông viết cho bà, nét chữ run run nhòe ướt, không biết vì nước mắt của ông khi viết hay của bà mỗi khi đọc, cô chỉ thấy những nếp gấp gần như bị rách ra:

           Mình à!
         Tôi muốn được sống lâu hơn mình để có thể nấu cháo cho mình ăn mỗi sáng, đánh thức mình dậy mỗi sáng và để mình không phải sống cô đơn một mình những năm tuổi già. Khi trẻ, tôi đã để mình sống cô đơn như vậy. Tôi muốn bù đắp lại cho mình.
         Những ngày tháng này, là những tháng ngày hạnh phúc nhất đời tôi. Khi được sống bên mình, được chăm sóc cho mình để bù đắp những tháng ngày tôi không làm tròn trách nhiệm của một người chồng. Nhưng ông trời không chiều lòng người rồi.
         Tôi biết, nếu đột ngột một sáng nào đó mình tỉnh dậy và không còn thấy tôi ở bên cạnh nữa, chắc hẳn mình sẽ không chịu nổi đâu. Nên khi tôi biết tôi bị ung thư giai đoạn cuối, tôi biết tôi sẽ chẳng sống được lâu nữa. Tôi đã hết sức lo lắng bởi tôi lại thất hứa với mình rồi. Sáng nào tôi cũng tỉnh giấc trước mình và để mình lại đó. Tôi muốn mình quen cảm giác ấy đi. Để sau này khi tôi đi rồi, mình  không quá hụt hẫng. Không biết mình đã quen chưa?Nhưng dù sao, khi thức dậy một sáng nào đó, không có tôi bên cạnh, mình cũng đừng khóc đấy!
         Khi không có tôi bên cạnh, mình vẫn phải chăm sóc bản thân và sống vui vẻ. Nếu mình cảm thấy cô đơn quá, thì có thể về ở với thằng cả. Vợ chồng nó sẽ thay tôi chăm sóc mình.
         Tôi vẫn chưa nói câu này với mình: Tôi yêu mình!


         Bức thư trên tay cô gái chữ đã nhòe gần như không đọc được nữa. Lau nước mắt, cô gái lặng lẽ đặt bức thư của bố dưới bức ảnh của mẹ trên bàn thờ. Dù không thể cùng đi với ông, nhưng cuối cùng bà cũng đã thỏa nguyện được về gần ông. Cô gái thấy tự hào về bản thân mình, vì cô được sinh ra từ chính tình yêu sâu đậm, đẹp đẽ của cha mẹ mình.



.
.

11 tháng 4, 2018

Vạt Nắng Sân Chùa


          Neten Rinpoche
          Người ta thường cho thày là một vị Tulku, là tiếng để chỉ cho những vị đã từng tu tập từ đời trước và có nguyện trở lại tái sanh trong cõi người.
            Do sự kính mến, ngoài cái pháp danh của thầy là Neten, họ thường kèm theo chữ "Rinpoche" (có nghĩa là cao quý). Neten có phong tư rất hiền hòa và từ bi, thầy có nhiều Phật tử, và những buổi lễ lớn thầy ban thường có rất nhiều tín chúng tới tham dự. 
            Năm lên bảy. Một vị sư già đi ngang và quả quyết Neten là một vị Lama đã từng tu tập nhiều kiếp, nay có nguyện tái sinh trở về cõi người này. Sư còn bảo, trong tương lai, nếu Neten chọn đi trên con đường đời sẽ là một người rất thành công, còn nếu đi theo con đường tu hành thì sẽ trở thành một vị đại đạo sư nổi tiếng. Cha mẹ Neten rất hoan hỷ khi nghe tin này, lập tức họ đưa Neten đến một tu viện lớn nổi tiếng của người Tây Tạng ở Ấn và xin cho Neten được xuống tóc, quy y. Neten nhớ rõ lòng mình lúc ấy. Thật bồi hồi, sung sướng và xúc động tới độ không thể cầm được nước mắt.

            Quả nhiên, thầy rất thông minh, tựa như người đã từng học qua, nay chỉ ôn lại mà thôi.Thí dụ như một đoản kinh rất khó nhớ, đối với các vị tu sĩ khác cần phải một thời gian dài mới có thể lãnh hội được thì đối với Neten, chỉ khoảng vài ngày thày đã hiểu cặn kẽ và thuộc lòng.
            Vị bổn sư của thầy rất hài lòng về việc đó, càng quý mến và kỳ vọng ở Neten nhiều hơn nữa. 
            Năm mười bốn tuổi, Neten thọ giới tỳ kheo. Năm hai mươi hai tuổi, thầy xong bằng tiến sĩ Phật học (sau khi đã trải qua tất cả những sự thử thách và tranh luận). Thầy được hội kiến với đức Dala Lama nhiều lần. Năm ba mươi tuổi, thày bắt đầu đi khắp nơi thuyết pháp ... Danh thầy nổi như cồn, tín chúng còn gọi thầy bằng một cái tên Lama thân mến... 

Dòng đời cứ xuôi chảy... 
            Một hôm, thầy bổn sư muốn ủy nhiệm Neten đến trụ trì một ngôi chùa mới xây ở tận một tiểu bang xa xôi bên nước Mỹ. Tâm thầy dường như không vui. Có lẽ thầy không muốn xa vị bổn sư mình.
            Ngoài lý do đó, hình như còn một lý do nào mà thầy chưa biết rõ, chỉ thấy tâm xao động, mà sự sao động đó thầy không sao dằn được. Chẳng biết điều lành hay dữ. Tối đó, thầy ngồi nhập định, xem xét tìm hiểu nguyên nhân. Thầy chỉ thấy một đám mây đen lởn vởn trên bầu trời. Nó mờ nhòa, không rõ. Chỉ biết sẽ có điềm họa sắp đến, mà chẳng biết đó là điềm gì. Định bụng, sáng ra thưa với thầy bổn sư xin được ở lại học tiếp và xin ngài ủy nhiệm một vị khác. Nhưng, ngẫm nghĩ, nếu đó là nghiệp quả phải trả, thì cũng nên dứt khoát trả hết trong kiếp này... Vì ý nghĩ đó. Thầy quyết định tuân hành bổn sư mình .. 
                                                                                    *
            Phái đoàn đi đón Neten Rinpoche ngoài phi trường gồm năm người. Ba nam, hai nữ. Họ đứng thành hàng dọc dâng tấm khăn trắng (một truyền thống của Tây Tạng khi gặp một vị Lama đạo hạnh). Thầy nhận khăn rồi lần lượt quàng lại lên cổ để ban phước lành cho người dâng khăn. Tới người cuối cùng là một nữ nhân. Thầy không nhìn rõ mặt, vì nàng dâng tấm khăn lên ngang mày .
            Thầy chỉ nhìn thấy đôi bàn tay trắng mịn với những ngón thon dài, nhưng thầy cũng nhận ngay rằng, đây chính là điềm họa cho mình. Thầy hơi khựng lại một thoáng. Nhưng, tâm trở lại bình tĩnh, thầy khẽ nhận khăn rồi choàng lại lên cổ nàng. Lập tức, nàng chắp hai bàn tay vào nhau, khuôn mặt nhìn xuống, lưng hơi khom lại tỏ một thái độ cung kính. Thấp thoáng, thầy thấy một khuôn mặt son trẻ, với đôi mắt đen nhánh như mắt con chim câu... Nàng khá đẹp. Nét đẹp dịu dàng của dân gốc Á. Mái tóc dài, mướt như một dòng suối. Trông nàng có một nét rất quen thuộc nào đó, nhưng tuyệt nhiên thầy không nhận ra được mình đã gặp nàng ở nơi chốn nào.




            Năm người đi đón thầy đều là người Việt. Họ vừa líu ríu theo chân thày vừa kể cho thầy nghe những sinh hoạt ở Mỹ. Ông Đoàn, người trong ban chấp hành của chùa, tường trình ngay:
            - Thưa Neten Rinpoche, vì còn một vài trục trặc về giấy tờ, hiện tại chùa chưa thể xin được để thầy có thể thành thường trú dân tại đây.
             Nhưng chúng con xin được visa, thầy có thể ở tại Mỹ sáu tháng. Trong khoảng thời gian này, chúng con sẽ cố gắng xin thẻ xanh cho thầy.
            Được. Chuyện ở lại còn tùy có đủ nhân duyên không.
            Tôi hy vọng trong thời gian ở đâỵ Mọi sự sẽ tốt đẹp...

            Con đường từ phi trường về chùa cũng khá xa, mọi người nói chuyện ríu rít. Nhưng nàng chỉ dõi mắt ra ngoài cửa kính xe, nhìn dòng xe cộ chảy ngược xuôi, tuyệt nhiên nàng chẳng nói lên lời nào. Hình như nàng cũng chẳng chú ý gì tới vị thầy cho lắm. Ông ta trông còn quá trẻ - nàng nghĩ - chẳng biết sự tu chứng của ông tới đâu...
            Những tuần lễ kế tiếp, Neten Rinpoche ban một loạt những buổi lễ quán đảnh. Tín chúng đi dự rất đông. Vì người thông dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ đi xa, nên tình cờ nàng lại được bầu làm thông dịch viên tạm thời trong khi chờ đợi.

            Nàng rất sung sướng vì được lựa chọn, đồng thời thật hãnh diện, vì từ hồi nào tới giờ, nàng chưa bao giờ làm được một việc gì hữu ích cho ai. Nay, tự dưng nàng lại được đề cử và nhất là được thân cận với một vị đại đạo sư đầy đủ phẩm hạnh, chẳng ít nhiều gì nàng cũng cảm thấy mình rất quan trọng.
 

           Trong việc thông dịch, thầy dành rất nhiều thời gian để giải thích thêm những danh từ Phật học nàng chưa hiểu rõ, nên nàng thường dành một ít giờ trước buổi lễ, hay những buổi giảng lên gặp riêng thầy, tóm tắt ghi chép những gì thầy muốn giảng. Tuy chưa làm thông dịch viên bao giờ, đôi khi gặp những danh từ chuyên môn làm nàng lúng túng, nhưng vì có được một kiến thức rất khá về Đại thừa, và nhờ sự kiên nhẫn của  Neten Rinpoche, cộng với lòng mong học hỏi, trí thông minh, chịu khó của nàng nên cũng hiểu được ít nhiều những gì thầy muốn nói.
            Tình thân giữa Thầy, trò ngày càng đậm. Khác với ý niệm đầu tiên nàng gặp Neten Rinpoche tại phi trường. Ngược lại, nàng nhận ra rằng, cái ông thầy này thật đáng nể. Ông có thể đọc suốt được tư tưởng của người đối diện. Hơn thế nữa, hình như ông có thể nhìn thấy được một vài điều của quá khứ và tương lai. Nhưng chẳng bao giờ ông nói, các nhóm đệ tử biết được đều do sự tình cờ rồi họ kháo nhau thêm, từ một thành mười, từ mười thành trăm, tô điểm vị thầy mình thêm huyền hoặc... Nàng bắt đầu  tâm phục, khẩu phục vị sư trẻ này. Lối hành xử của nàng cũng tỏ vẻ tôn kính và yêu mến thầy hơn.

            Một buổi sáng. Trong sân chùa ngập nắng, thầy Neten thấy nàng mặc chiếc áo dài Á đông bước vào cổng chùa, khuôn mặt rạng rỡ... Nhìn thoáng, thầy có cảm tưởng nàng chính là vạt nắng đầu ngày, thày thấy lòng rung động, bàng hoàng, cảm nhận pháp giới này không phải một, cũng không phải khác, nó thật chập trùng biến hiện. Có phải chăng, người thiếu nữ kia đang "biến" thành vạt nắng hòa nhập với bản thể nhất như của vạn pháp? Thầy nghiêng tâm nghe lòng mình rung động, rồi với sự phản xạ máy móc của nghiệp dư còn đọng lại trong tâm, thầy vội vã bước ra sân "đón" lấy vạt nắng ấy.  
            Cả hai nhìn nhau. Kỳ diệu thay, thầy có cảm giác mình cũng biến thành ánh nắng chan hòa, hợp với vạt nắng vừa xuất hiện thành nhất thể như nước hòa với sữa. Trong phút giây mầu nhiệm ấy, ngôn ngữ quả là "bất khả ngôn thuyết"...
            Hình như người nữ cũng cùng trong một tâm trạng ngây ngất ấy. Nàng thốt lên với một giọng tràn đầy xúc động:
            - Thầy…
            Nàng loạng choạng muốn té quỵ, thân người mảnh mai như muốn đổ ập về phía Neten. Bằng một phản xạ tự nhiên, máy móc, thầy Neten vội đưa tay ra đỡ.
             Cùng lúc thày cũng đủ tỉnh thức để lùi lại một vài bước, tránh cho toàn thân nàng dựa hẳn vào mình, giọng thầy lấy lại bình tĩnh, hỏi khẽ:
            - Đệ tử có sao không?
Thiếu nữ ấp úng:
            - Không...không...!!
            Bỗng dưng… trong con ... có một niềm cảm động… tới muốn bật khóc...
Vì sự tự trọng,  Nàng cũng vội vã lùi lại làm cho thân mình bị mất thăng bằng, lảo đảo. Hai bàn tay dơ ra gần chạm nhau lại bị vội vã rụt về. Cả hai đứng nhìn nhau trong suốt chiều sâu của tâm thức. Hốt nhiên, Neten Rinpoche đọc được trong ánh mắt nàng cả một khung trời vừa sụp đổ, trong đó cưu mang một nỗi đau đớn tận cùng của của sự thất vọng và yêu thương...

            Sau buổi sáng hôm ấy, phong tư của Neten Rinpoche hình như không có gì thay đổi. Nhưng nếu để ý kỹ, trong những hành động và cách cư xử - tuy kín đáo  nhưng thầy cũng dành cho nàng một sự chăm lo đặc biệt hơn, cùng với lòng bi mẫn như lúc nào cũng phủ chụp xuống nàng. Thầy vẫn gặp nàng trước những giờ thuyết pháp. Nhưng có lẽ thày tránh không muốn gặp riêng nàng ở bất cứ chỗ nào trong chùa. Còn riêng nàng, gần như một huyền lực của nghiệp cũ đã chín mùi. Dần dà, nàng bỗng nhận ra một điều "khủng khiếp", nàng không thể sống thiếu thầy, nàng bỗng thấy mình có một nhu cầu rất cần thiết mỗi ngày là phải được gặp thầy, phải nhìn thầy, nghe thầy nói, ngắm thầy cười, hay chẳng cần làm gì, chỉ cần phục dưới chân thầy nghe thầy lần tràng hạt với những câu chú như một chuỗi âm thanh dính liền nhau không dứt. Tệ hơn nữa, trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức, nàng khởi tâm muốn "chiếm hữu" thầy cho riêng mình, cảm giác chiếm hữu ấy mạnh tới độ nàng nàng cảm thấy rất khó chịu và ghen tức khi thấy thầy nói chuyện vui vẻ với những người khác. Những lúc như vậy, tâm nàng thật bồn chồn, không yên và cực kỳ đau khổ. Biết điều đó là xấu, nhưng nàng thực không thể cưỡng nổi sự ghen tuông.  



            Một hôm lên chùa sớm, định vào chào thầy thì nàng đã thấy có một chị Phật tử khác đang trong phòng trò chuyện, chẳng biết chị nói chuyện gì mà nàng nghe tiếng thầy cười hòa với tiếng cười ròn rã của chị. Buồn bã, nàng ra ngoài sau hè ngồi khóc. Khóc chán, nàng lại thò đầu vô xem chị Phật tử nói chuyện xong chưa. Vẫn thấy chị ngồi thụp dưới chân thầy nói cười vui  vẻ.
            Nàng thấy tim mình quặt thắt lại. Nàng cũng thấy mình thật vô lý khi cứ quẩn quanh trong một ngõ cụt như thế. Trong lúc này, hình như những giáo lý của Phật mà nàng học hỏi từ bao lâu, cứ chảy trôi theo dòng nước mắt, chẳng giúp được gì cho nàng mấy đỗi...
            Nhưng nỗi buồn không hẳn mãi mãi sẽ là thế. Nó chính là "mặt bên kia" của niềm vui. Đôi khi nàng được thày cho tham gia vào công việc của chùa, như việc tô những bức tượng Phật. Thật lạ, chẳng hiểu những tượng Phật đó ở đâu ra mà đầy cả bàn. Mỗi bức cao khoảng một tấc, đủ các vị Phật với những thế ngồi khác nhau.    Nàng ngồi xà xuống và hỏi thày với giọng đầy khích động và ngạc nhiên:
            - Ôi chao... Tượng Phật ở đâu nhiều thế. Cho con tô với nhé?
            Vị thầy ngước nhìn người thiếu nữ đọc được tất cả sự khích động trên đôi mắt ngây thơ của nàng, thày cười:
            - Được! Nhưng chị tô có khéo không? Tô tượng cũng là một hình thức thiền định và quán tưởng. Lại nữa, có một vài chỗ phải rất cẩn thận, không được tô lem nhem, nhất là điểm nhãn Phật thì lại càng phải khéo léo lắm!

Sợ thày đổi ý. Nàng nói ngay:
            - Con làm được mà! 
            Nàng sung sướng vô cùng khi được ngồi bên thầy như thế. Ban đầu thầy cho nàng tô những phần dễ, thấy nàng tô khéo, thày cho tô phần tóc (một chút xíu phần trên trán, nơi đó nếu không khéo sẽ bị lem qua vương miện trên đầu). Nàng thích nhất ngồi tô thân thể Phật một màu vàng ròng. Tô lớp đầu không thấy vàng mấy, nhưng nếu kiên nhẫn tô lên từng lớp chồng nhau, đợi lớp này khô, lại tô thêm lớp mới cho đến khi có một màu vàng óng đẹp như một khối vàng thật. Nàng thích tới độ mê mải làm mãi tới gần bảy giờ tối mới chịu về. Trước khi về, nàng khoe với thầy "công trình" mình vừa làm cả ngày. Một tượng Phật Thích Ca, một tượng của ngài Quán Âm. Cả hai tượng đều có một màu vàng óng trông rất đẹp mắt...

            Niềm hạnh phúc của nàng bị cắt đứt khi người thông dịch viên cũ trở về. Nàng không còn có cơ hội gần gũi thầy nữa. Nàng nhớ thầy, sự nhớ nhung kỳ quặc đến độ nàng cảm thấy hổ thẹn về mặc cảm, nghĩ rằng, mình chính là con ma nữ đến quấy rối người tu hành. Lòng nàng luôn luôn cảm thấy đau khổ và buồn sầu. Đau khổ vì biết rằng, tình yêu (nếu có) của mình chính là một tình yêu bệnh hoạn và mù quáng vì nó đã đặt không đúng chỗ. Buồn rầu khi biết chắc rằng mình đã chẳng ít nhiều gì cũng đang tạo những nghiệp xấu, ác... Vì sự mặc cảm ấy, nàng thường có thái độ tránh né và không dám đến gần thầy nữa. Nhưng vì lòng nhung nhớ cứ dâng đầy, nên chẳng bao giờ nàng bỏ một thời thuyết pháp nào cả .

            Một buổi chiều, sự nhớ thương gần như không còn chịu đựng được nữa. Nàng lang thang xuống phố, mua ba cành hoa Lilly trắng đem lên chùa dâng thầy. Cảnh chùa vắng vẻ, nàng bước vào với nhịp tim đập thình thịch trong lòng ngực. Nàng ôm chặt ba cành hoa trước ngực như một sự chở che, ngăn cấm mình phạm tội.
            Các thầy nhỏ chắc đang ở sân sau chùa trồng tỉa, chỉ còn lại Neten Rinpoche ngồi trong một phòng cạnh chánh điện đang tô các tượng Phật. Nàng bước vào với một thái độ của một kẻ phạm trọng tội, mặt người nữ tái xanh, rụt rè và lắp bắp:
            - Con đem... dâng thầy mấy... cành hoa... Lilly... trắng...
            Neten Rinpoche ngẩng lên, ánh mắt từ bi như thấy suốt được tâm tư nàng, thong thả đáp:
            - Thật là tuyệt diệu. Ta đang đợi chị đến... (Rồi ngắm nhìn ba đóa hoa trắng nuốt, đôi mắt lung linh, hoan hỷ, thầy tiếp). Mấy đóa hoa mới đẹp làm sao!!. Chị hãy cắm vào bình dâng lên lễ Phật.
            Sau quay lại đây, ta muốn cho chị coi cái này...
            Thiếu nữ líu ríu làm theo như một mệnh lệnh. Cắm những cành hoa trắng vào bình, xì xụp lạy trước những tượng Phật đang ngồi trên bệ thờ rất trang nghiêm. Chẳng hiểu sao lúc đó nàng cảm thấy xúc động lạ kỳ và nước mắt cứ tuôn như mưa...   Nàng phải đợi một lúc cho tâm lắng đọng mới dám bước qua phòng bên gặp Neten. Thầy nhìn nàng chăm chú. Như người đã biết rõ được vấn đề, nhưng vẫn cứ hỏi:
            - Chắc chị đang gặp chuyện... khó khăn?
Chỉ chờ có thế, nàng òa lên, nức nở:
            - Dạ phải. Xin thầy ban bình an cho con...
Vị thầy thở dài.  Nhìn người nữ một đỗi rồi nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của nàng dịu dàng bảo:
            - Có những điều ta cần phải nên buông bỏ thì sự khổ đau mới chấm dứt...
            Vừa nói đến đó, Neten buông tay nàng, dùng cả hai bàn tay mình ôm lấy khuôn mặt người nữ, (dưới dạng hình thức ban phép lành), rồi thầy cúi xuống, thấp dần...thấp dần... cho tới khi trán của Neten đụng lên trán nàng...

            Do sự gia trì của vị đạo sư. Mọi sự như được hiển bày trước mắt. Nàng nhìn thấy rõ trong một kiếp quá khứ nào đó của chính nàng. Hình ảnh người nữ đang đứng với chiếc áo cánh trắng mong manh. Trên tay cầm ba cành hoa Lilly mầu trắng nuốt. Sau lưng nàng là một khung cửa chói lòa ánh nắng với vườn hoa muôn sắc. Đối diện là chồng nàng, họ đang trao nhau những ánh mắt thương yêu. Người nữ đặt ba cành hoa lên ngực người nam nhìn chàng say đắm nói khẽ qua hơi thở:
            - Anh ạ. Em nguyện sẽ đời đời kiếp kiếp được làm vợ anh và được hạnh phúc như thế này mãi mãi...
            Đôi mắt người nữ ngước lên long lanh. Mùi hoa Lilly thơm ngát đâu đây...
            Vị đạo sư buông tay, rời trán mình khỏi trán nữ nhân. Nàng xúc động tới độ bật khóc. Nàng nhớ lại tất cả như chuyện mới xảy ra hôm qua. Tim nàng run run như con chim non bị lạnh. Giọng đạo sư trầm trầm:
            - Đã vài đời, vài kiếp, chúng ta từng là vợ chồng và rất sung sướng, hạnh phúc, đã từng được làm thân người, thân chư thiên, nhẫn đến có được những thân vi diệu trên từng trời Phạm Thiên và đã từng hưởng tất cả những sung sướng của cõi nhân gian này... Dẫu vậy, chúng cũng chẳng đem lại hữu ích gì mấy đỗi. Ngược lại, chúng ta cũng đã từng nhiều đời, nhiều kiếp - do sự vô minh, tham ái - mà phải chịu mang thân ngạ quỷ, súc sanh, nhẫn đến ở trong những địa ngục nóng, lạnh để phải chìm nổi trong luân hồi và thọ nhận tất cả những khổ đau. Nay, cơ may trở lại được thân người, tôi lại được gặp em, dẫu trong một hoàn cảnh hoàn toàn đổi khác, nhưng đó cũng là cơ may cho chúng ta gỡ những nghiệp quả từ kiếp trước. Sao em không nhân cơ hội có được thân người hiếm quý này tu tập cầu giải thoát? Sao cứ phải cam chịu loanh quanh trong luân hồi tạo thêm ác nghiệp? Hạnh Phúc ư?

            Thế nào là Hạnh phúc? Nếu lấy cái Hạnh phúc của trần gian này để làm niềm vui thì cái niềm vui ấy thật bọt bèo, dễ vỡ...
             Vị đạo sư đứng lên. Ông mở tung cánh cửa sổ trông ra vườn. Nắng vẫn còn lung linh trên những đóa cúc vàng hắt lên những ánh sáng cuối cùng của ngày tàn. Ánh sáng bên ngoài tràn vào căn phòng bắt đầu tối làm thành một viền sáng quanh thân ông. Ông quay nhìn người thiếu nữ vẫn còn đầm đìa nước mắt thong thả nói rõ từng tiếng:
            - Phải. Em vẫn còn vướng với tôi một lời nguyện ước. Thảo nào lần đầu tiên gặp em ở phi trường, tôi đã nhận ra được nét thân quen. Nhưng thực tâm tôi không muốn đòi, bởi mọi sự đều đã thay đổi.

            Tôi đang đi trên con đường tìm kiếm chân Hạnh phúc cho mình và cho người. Trong tôi, vẫn có tình yêu dành cho em, nhưng tình yêu tôi nay không còn ngừng trên một đối tượng, mà là trên toàn thể pháp giới...
            Từ sau buổi sáng tôi đón em như một "vạt nắng sân chùa", em luôn luôn hiện hữu trong tôi, là một điểm sáng, một sự thanh khiết, cao quý nhất. Em đi cả vào trong những buổi cầu nguyện của tôi. Tôi luôn nguyện em cũng sẽ đạt được chân Hạnh Phúc ấy. Muốn vậy, em nên xả bỏ tất cả. Có những điều ta cần phải nên buông bỏ thì sự khổ đau mới thực sự chấm dứt...  
            Thiếu nữ òa khóc. Nàng nghe trong tim một sự rạn vỡ...
            Trong cơn đau đớn tận cùng, nàng cảm nhận  được tình yêu rộng lớn của vị đạo sư dành cho mình. Nàng hiểu rất rõ rằng nàng không còn một một sự chọn lựa nào khác. Người chồng năm xưa nay đã đổi hướng đi, không còn muốn đi chung với nàng trên con đường xưa cũ, mà ở đó, Hạnh Phúc hay Đau Khổ đều tùy thuộc vào sự vô thường, bèo bọt của kiếp người.
            Nay, nàng cũng phải thay đổi, nàng phải đi tận cùng nỗi khổ đau để vươn lên, để có thể trở thành một "giải nắng thênh thang".
            Nơi ấy, nàng sẽ gặp chàng ở đó...



.



10 tháng 4, 2018

Vong Ân Bội Nghĩa


          Chuyện kể rằng
          Chiêm Nguyệt Quyên là người Đài Loan quê ở Gia Nghĩa. Tháng 7 năm 1979, cô dẫn con gái Tiểu Mẫn 3 tuổi qua thành phố Hoành Tân (Yokohama) Nhật Bản, rồi uống thuốc độc tự sát trong khách sạn.
          Khi cảnh sát đến hiện trường, phát hiện dấu vân tay viết chữ “HẬN” bằng máu. Lại thấy hai mẹ con đều mở to mắt, và máu lệ vẫn còn đang chảy, chứng tỏ họ chết rất đau khổ, không cam tâm. Ban cảnh sát hình sự Nhật Bản vốn giàu kinh nghiệm, thầm biết vụ tự sát này có nhiều uẩn khúc, nội tình không đơn giản.
          Cảnh sát Nhật Bản rất quan tâm đến vụ án này, lần theo lý lịch hộ chiếu người chết, họ đến Đài Loan trú một ngày tại Cơ Quan Hiệp Trợ và nhanh chóng tìm ra cha mẹ nạn nhân.




          Phụ thân Nguyệt Quyên là ông Chiêm Phong Bình làm nghề nông, mẹ là Du Kiều Nguyệt nội trợ. Quyên là con thứ ba trong nhà, trên có anh và chị, dưới có hai em trai. Quyên hồi nhỏ học rất giỏi, nên đã thi đậu vào Đại Học Sư Phạm Đài Bắc trứ danh, người quanh đó đều ngưỡng mộ, khen ngợi, cô là niềm tự hào của gia đình họ Chiêm.
          Quyên học đại học đến năm thứ 4, nhân dịp tham gia hoạt động chuyên đội, cô quen anh Uông Huyền Nhân, người Đài Đại. Bề ngoài anh Nhân không có gì xuất chúng, nhưng lắm tài, tính anh khéo hài hước pha trò, chọc người cười vui, nói năng lưu loát, lại khéo phun châu nhả ngọc. Nhờ vậy mà lọt vào mắt xanh của Quyên.

          Qua nửa năm giao lưu, cảm tình ngày một nồng thắm. Họ dự định tốt nghiệp xong thì sẽ kết hôn. Trong mắt các bạn, hai người là một cặp trời sanh, “trai tài gái sắc”, khiến ai nhìn vào cũng phải ước ao.
          Nhưng thế sự khó lường, năm đó anh Nhân vừa tốt nghiệp thì tham gia hoạt động leo núi. Trên đường trở về, bất ngờ anh bị tai nạn xe. Trong thời gian trị dưỡng, hàng ngày hễ Quyên dạy học xong thì đến bệnh viện chăm sóc anh. Do vậy mà cô quen biết bác sĩ thực tập Vu Luân Thuận.
          Thuận trông có vẻ là người tài hoa mẫu mực, tính trầm lặng ít nói. Lúc đó Thuận đã âm thầm yêu thương Quyên.
          Sau khi Nhân không qua khỏi, Thuận nhiệt tình theo đuổi Quyên. Những khi không trực ở bệnh viện thì anh đến trường Quyên dạy, đón cô về nhà, đích thân xuống bếp nấu ăn chiêu đãi. Mỗi lần Quyên về Gia Nghĩa thăm cha mẹ, Thuận đều ra tận ga xe lửa để đưa đón cô. Thuận kiên trì đeo đuổi Quyên suốt một năm rưỡi, cuối cùng cô cũng bị tình cảm của anh làm cảm động và chấp nhận bước vào lễ đường.

          Sau khi kết hôn, Quyên mới biết trước đây Thuận nộp đơn xin du học bên Nhật Bản, đã được chấp thuận, trường thông báo trong vòng một tháng Thuận phải đến đăng ký. Vì mới kết hôn nên Thuận muốn từ bỏ cơ hội sang Nhật Bản để được ở bên vợ. Nhưng Quyên cho rằng được xuất ngoại du học là dịp may hiếm có, còn vấn đề học phí, cô sẽ tìm cách lo liệu giúp anh.
          Thuận thấy vợ nói có lý, bèn quyết định sang Nhật du học, lòng tràn đầy xúc động và cảm kích. Trước đêm chia tay, Thuận ba lần hướng về vợ hứa hẹn bảo đảm, rằng một khi tốt nghiệp tiến sĩ xong anh sẽ quay lại Đài Loan ngay, mở phòng mạch ở Đài Bắc cùng vợ làm việc và sống hạnh phúc bên nhau.
          Lời của anh làm Quyên cảm động không thôi. Cô tự hào vì tình yêu chồng dành cho mình, hạnh phúc vì mình đã lấy đúng người. Kể từ đó, mọi gánh nặng trút xuống đầu Quyên, cô phải vất vả lo học phí, phí sinh hoạt đắt đỏ cho chồng ăn học ở Nhật Bản.
          Một năm sau đó, tiền Quyên dành dụm tích lũy đều được gởi cho chồng tiêu dùng. Ngoài dạy ở trường, cô còn lãnh dạy kèm ở nhà, thỉnh thoảng hướng cha mẹ xin tiền, nhưng vẫn không cách chi đủ phí cho chồng xài. Lúc này con của Quyên đã được một tuổi, gánh nặng càng tăng, tiền nuôi đứa nhỏ, tiền nuôi chồng ăn học, tất cả dồn ép cô bận rộn đến không kịp thở.
          Mùa đông năm đó, để giải quyết kinh tế túng quẫn, Quyên bất đắc dĩ phải đến quán rượu làm việc, nhận công tác tiếp khách “bán cười không bán thân” trong thời gian 3 năm. Nhờ vậy mà cô giải quyết được phí tiêu xài cho chồng, nhưng do phải trường kỳ uống rượu thức khuya, dạy học vất vả, nên Quyên mắc bệnh lao nghiêm trọng. Bác sĩ tuyên bố, kể từ đây cô không thể sinh con được nữa, điều này đã gây đảkích lớn với cô. Thế nhưng Quyên lại luôn tự tin: “Tất cả mình đã hi sinh vì chồng, anh nhất định sẽ thông cảm và yêu cô hơn”…

          Lúc Thuận sắp lấy bằng tiến sĩ, anh có về Đài Loan tham dự lễ tang bà nội. Khi biết Quyên đến quán rượu làm việc bị bệnh phổi thì Thuận chẳng những không tức giận, không truy cứu, ngược lại còn làm như không có chuyện gì xảy ra. Thuận luôn bình thản và tỏ ra quý vợ, khiến Quyên càng tin tưởng vào tình yêu của chồng.
          Nhưng Quyên không ngờ được rằng, trước khi về Đài Loan, Thuận đã lén lút kết hôn với cô gái – con của giáo sư trường mình và đã mở một y viện nhỏ tại ngoại thành Đông Kinh, tự mình làm viện trưởng. Chính giáo sư và con gái ông đã xuất tiền đầu tư cho Thuận, nên họ nghiễm nhiên là đồng sự. Không lâu sau thì tin này cũng truyền đến tai Quyên. Ban đầu cô không tin, còn cho rằng bịa đặt, saong thâm tâm vẫn bán tín bán nghi. Thế rồi cô quyết định, đợi thân thể khỏa mạnh hơn sẽ dẫn con gái Tiểu Mẫn qua Nhật một lần cho rõ thực hư.
          Thuận nhận được tin vợ, biết là sự tình đã đến hồi nghiêm trọng. Để việc làm tồi tệ của mình không bị vạch trần khiến bản thân phải xấu hổ, Thuận đã âm thầm dựng lên một âm mưu hiểm độc. Đầu tiên, anh lấy lý do bận rộn, phái người đến phi trường đón hai mẹ con Quyên về khách sạn trước và hẹn tối sẽ đến đó gặp. Sau đó, anh ta thuê người đóng giả phục vụ viên, bảo họ mười lăm phút trước khi anh đến, hãy lẻn vào phòng dùng thủ đoạn thô bạo toan cưỡng hiếp Quyên, ngay lúc đó anh ta sẽ xuất hiện.

          Tên hại mướn kia làm y theo kế sách của Thuận, trước mặt anh ta, hắn nói dối mình là gian phu của Quyên. Còn Quyên thì quá thật thà, cô giống như bị câm không biết nói lời nào để minh oan cho mình. Thuận liền nhân cơ hội đó đanh thép buộc tội, dõng dạc đề xuất ly hôn với Quyên. Trong khách sạn, sau khi vở kịch thành công mỹ mãn, Thuận lập tức trở mặt phủ nhận nghĩa tình phu thê, phủi luôn 4 năm Quyên gian khổ làm lụng chu cấp chồng ăn học. Tất cả ân tình sâu nặng, tất cả sự hi sinh của Quyên, trong giây phút này đều hóa thành vô nghĩa.




          Quyên nhận ra hôn nhân giữa hai người đã không còn cách cứu vãn. Cô nghẹn ngào bi phẫn ký tên vào đơn ly hôn. Trước lúc ly hôn ở Đông Kinh, vì muốn cho Tiểu Mẫn gặp lại cha một lần, thông qua hồ sơ và tư liệu nơi trường học, Quyên tìm đến y viện và phát hiện ra sự thật phũ phàng: Thuận đã sớm kết hôn vui duyên mới, và vụ án cường bạo ở khách sạn là bẫy rập của anh ta làm ra để hại cô.

          Quyên cảm thấy như trời đất sụp đổ, trong cơn phẫn nộ tột độ, cô đã xông thẳng đến nhà viện trưởng Thuận để hỏi cho minh bạch. Thế nhưng đến đó chỉ chuốc thêm nhục nhã chất chồng. Thuận đổ hết mọi điều xấu lên cô, còn kêu bảo vệ đuổi cô ra khỏi nhà. Quyên đơn thân thế cô, chẳng có cơ hội nào để đối chất. Do thân tâm đều bị đả kích rất nặng, cô dẫn con qua thành phố Hoành Tân thăm dì là Hoa kiều đang ngụ ở Nhật xong thì quay về khách sạn và uống thuốc độc tự sát cùng Tiểu Mẫn.


          Mặc dù cảnh sát Nhật Bản đã điều tra ra vụ án, nhưng mẹ con Quyên đã chết, họ không bằng không chứng nên chẳng làm gì được Thuận.


          Về phần Thuận, khi nghe tin hai mẹ con Quyên tự tử, anh ta như trút bỏ được gánh nặng, thầm nghĩ kể từ đây tha hồ gối cao đầu ngủ, tha hồ thoải mái không bị phiền toái nữa. Thế là anh ta tiếp tục lợi dụng quan hệ và uy tín của nhạc phụ để truy cầu danh lợi tại Nhật Bản.
          Sự nghiệp thuận lợi như diều gặp gió. Sau đó, Thuận được mời đến trường diễn giảng, đề tài là “Bí quyết sống hạnh phúc giữa vợ chồng”.
          Thuận đang cao hứng nói thao thao, mới giảng được nửa buổi thì cái micro vô duyên vô cớ đột nhiên bốc khói rồi nổ tung. Tại giảng đường, Thuận không chút đề phòng nên bị vỡ đầu chảy máu, mù hai mắt. Do đầu bị trọng thương nên anh ta biến thành ngu si ngớ ngẩn, hiện vẫn còn đang điều trị và điều dưỡng tại bệnh viện Nhật Bản.


          Cái micro vì sao phát nổ? Nạn nhân vì sao lại chính là Thuận mà không phải ai khác? Là người chồng bạc tình phụ nghĩa, nhẫn tâm cư xử độc ác, ruồng bỏ người vợ hiền cũng chính là ân nhân của mình. Và đề tài giảng vì sao lại có liên quan đến “Tình phu thê”? Rốt cuộc thì đây là sự trùng hợp, là thiên ý hay là báo ứng vậy? Mọi người đều bàn tán xôn xao.
          Theo người viết thì Thuận có thể trốn được quốc pháp nhưng luật Nhân quả, anh ta không tài nào trống được. Đây chính là Nhân quả báo ứng hiện tiền.

          Bạn hiểu được Nhân Quả, Tin sâu Nhân Quả thì tự nhiên sẽ không dám nghĩ ác, nói lời ác và làm điều ác mà sẽ chăm lo tích đức tu thiện, gieo các Nhân thiện lành. Quả báo tốt lành đến với bạn không do ai ban thưởng mà là do chính bạn tự gieo trồng mà có đó thôi. “Gieo Nhân gì thì gặt Quả nấy”.



.

9 tháng 4, 2018

Nước mắt của mẹ


           Khi người Luật sư nhìn rõ hình hài teo tóp của người đàn bà đang nằm thiêm thiếp kia, ông bất chợt "ngộ" ra cái  lý do vì sao mà vị sư trụ trì ngôi chùa nhất quyết không cho ông và thân chủ vào gặp...



           Sáng chớm đông, một người đàn ông vội vã bước vào trụ sở văn phòng Luật sư trên phố N. Trang phục và dáng vẻ sang trọng của anh vẫn không giấu được vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt. Và, câu chuyện với Luật sư đã chứng minh ấn tượng ban đầu.
           Người đàn ông đó là giám đốc một công ty tư nhân về xuất nhập khẩu tương đối lớn ở thành phố Q. Anh vốn là con của một bà mẹ đơn thân sùng Phật. Vì không hợp với con dâu nên bà mẹ quyết định dọn về một ngôi chùa ở quê bà để sống.
           Ngày mẹ ra đi, anh cũng chẳng giữ vì tính anh vốn ích kỷ, lại thêm anh cũng đã chán cảnh bị giằng xé giữa mẹ và vợ.
           Thế nhưng, khi công ty sau một cú làm ăn đổ bể cộng thêm thị trường chứng khoán sụt giảm nên bắt đầu có dấu hiệu cụt vốn thì bỗng nhiên anh lại nhớ đến mẹ. Nói chính xác hơn là nhớ đến mảnh đất gần nghìn mét vuông mà mẹ mình được thừa kế từ ông bà ngoại. Tìm đến ngôi chùa mẹ đang ở, anh mới biết mẹ anh bị xuất huyết não, đã nằm liệt giường mấy tháng nay, nhưng bà nhất quyết không cho nhà chùa báo với con.
           Còn mảnh đất, trước lúc ngã bệnh ít lâu, bà đã lập di chúc sau khi chết sẽ để lại cho ngôi chùa nơi bà đang sống để nhà chùa xây nhà nuôi trẻ mồ côi. Bản di chúc có đầy đủ dấu má, chứng thực của chính quyền, điểm chỉ của người có di chúc.
           Miếng ăn tưởng đến miệng lại rơi ra khiến người đàn ông lồng lộn vì tức. Anh ta lập tức quay lại thành phố, tiến hành thủ tục thuê Luật sư để kiện đòi lại mảnh đất vì cho rằng mẹ mình vì sùng đạo đã nghe sư thầy dỗ ngon dỗ ngọt nên đã lập di chúc trong tình trạng không minh mẫn.
           Sau khi nghe chuyện, trước khi thỏa thuận hợp đồng, người Luật sư đề nghị  thân chủ cùng mình đến thẳng ngôi chùa để gặp người đàn bà. Nào ngờ vị sư trụ trì kiên quyết không cho hai người vào. Sau một hồi lâu thuyết phục, bước vào căn phòng ấm áp sau chùa, nơi người đàn bà - mẹ của thân chủ đang nằm thiêm thiếp, nhìn cảnh ông con trai hết cố lay tỉnh mẹ mình còn miệng liên tục yêu cầu mẹ làm lại di chúc, lại đến săm soi lật từng ngón tay của mẹ mình lên để xem tới đây sẽ rịn mực vào ngón nào điểm chỉ cho phù hợp trên bản di chúc mới, người Luật sư bỗng ngộ ra lý do vì sao mà vị sư trụ trì ngôi chùa nhất quyết không cho ông và thân chủ vào gặp.
           Qua câu chuyện với sư trụ trì, ông còn được biết trước khi cầu viện Luật sư, người đàn ông đi chiếc xe sang trọng, quần áo bảnh bao kia đã không ít lần đến quậy tưng bừng chốn yên tĩnh này để đòi thừa kế mảnh đất. Nhìn lại người đàn bà lần nữa, ông thấy trên khuôn mặt của bà, những giọt nước mắt đùng đục đang khẽ len lỏi qua các nếp nhăn mệt mỏi...
           Lặng lẽ đứng dậy, vị Luật sư tiến ra phía cổng chùa. Một hợp đồng tan vỡ nhưng sao lòng ông lại thấy nhẹ nhàng...


.

7 tháng 4, 2018

Khóc một dòng sông


Người về khóc một dòng sông 
Ngày hoa mộng chết bên song cửa buồn 

          Buổi sáng, khi vầng thái dương vừa tỏa ánh sáng muôn màu xuống những ngọn đồi nằm sải dài bên khung cửa kính thì tôi cũng vừa thức dậy, trong lúc Thức - chồng tôi - còn đang say ngủ. Tôi muốn một mình đi dạo quanh đây để nhìn ngắm lại Đà Lạt sau hơn hai mươi năm xa cách.




          Hôm qua, khi chiếc xe thuê ở Sài Gòn đưa đươc chúng tôi lên tới đây thì trời cũng vừa tối, tôi chỉ còn làm đươc việc là tắm rửa nghì ngơi rồi giấu mình trong chăn nệm. Tuy tôi không thể ngủ được ngay, nhưng dù có háo hức muốn đi thăm Đà Lạt đến đâu, tôi cũng phải để đến ngày mai. Ban đêm Đà Lạt bây giờ sao mà buồn hiu hắt. Bóng tối bao trùm lên cảnh vật, vài ngọn đèn lờ mờ, cô đơn trong đêm đen dài vô tận. Thôi đành dỗ giấc ngủ để ngày mai có sức leo đồi. Ôi! Đà Lạt thân yêu, thành phố mà tôi đã gửi lại tất cả kỹ niệm của một thời con gái, một quãng đời sinh viên hoa mộng, một tình yêu đầu tiên với rất nhiều nỗi ngậm ngùi.

          Những cặp mắt của người làm cho khách sạn đang nhìn tôi lạ lẫm, càng làm tôi thêm những ngại ngùng. Không, tôi không phải là khách lạ, tôi chỉ là một người dân Đà Lạt bình thường như hai mươi năm trứơc đây tôi đã sống. Cho dù  những áo quần tôi đang mặc có mới hơn một tý, nhưng tấm lòng tôi vẫn là tấm lòng của thuở ban đầu khi mới bước chân lên Đà Lạt thân yêu.
          Tôi đã phải nhẹ tay mở cửa để khỏi phá giấc ngủ của chồng. Thức đã cố gắng đưa tôi lên đây hoàn toàn để chiều theo ý muốn của tôi. Chàng chẳng có một ý niệm nào về Đà Lạt chứ đừng nói đến kỷ niệm. Cuộc đời Thức lúc nào cũng thành công và may mắn. Con người chàng vô cùng thực tế đến độ nghĩ về dĩ vãng là một điều ít khi, nếu không nói là chẳng bao giờ. Thức về lại Việt Nam chẳng phải là vì nhớ nhung hay thăm viếng mà hoàn toàn là công chuyện làm ăn. Làm ăn với ai, bằng cách nào chàng không hề bận tâm.
          Chỉ có tiền là đã đủ cho Thức say mê vào công việc. Tất cả mọi gíá trị ở trên đời này đối với Thức đều đo bằng tiền bạc. Chúng tôi đã là vợ chồng hơn hai mươi năm nhưng vẫn có nhưng điều không thể tâm sự cùng nhau. Như hôm nay, tôi có mặt nơi đây, bên cạnh chồng, nhưng tôi vẫn cô đơn như bao nhiêu ngày tháng cô đơn đã qua đi với tuổi thanh xuân. Trên mảnh đất thân yêu xưa cũ này tôi lại càng muốn được cô đơn, để chỉ một mình tôi đi lại trong ngày tháng đã qua.
          Tôi tiến ra hành lang để nhìn lại Đà Lạt lần đầu dưới ánh nắng ban mai. Khi những phút giây bàng hoàng đã qua đi, tôi mới nhận thấy rằng Đà Lat bây giờ xa lạ quá. Tôi đã đọc nhiều bài viết về sự đối thay của Đà Lat nhưng không thể ngờ rằng người ta lại làm Đà Lạt đổi thay nhiều đến thế. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là sự xơ xác và điêu tàn. Tôi chưa nhìn thấy bóng dáng một cây anh đào nào cho dù bây giờ đang độ sang xuân. Nước hồ Xuân hương không còn trong xanh như ngày trước. Đồi Cù ngày xưa, cỏ lên xanh mướt, mượt mà, bây giờ chỉ thấy loang lổ những vết cháy đen, những hàng rào bao quanh ngăn cấm. Nước mắt tôi trào ra, những hình ảnh cũ của một ngày xưa thơ mộng hiện về trong làn nước mắt rưng rưng…

          .. Năm ấy, một đêm khuya, chuyến xe đò cuối cùng mang tôi lên Đà Lạt. Hai lần hỏng máy dọc đường làm cho cuộc hành trinh đã dài lại dài thêm. Tôi đang lo ngại không biết tìm ai tin cậy đề hỏi thăm đường thì chợt thây một ngừơi từ xa đi tới. Những bước chân vội vàng qua trước mặt tôi không thèm ngó lại, chiếc mũ Kê pi ngay ngắn và bộ đồ dạo phố muà đông tự nhiên làm cho tôi tin cậy, vội vàng tôi lên tiếng gọi.
          - Này, này, anh ơi, ông ơi, cho tôi hỏi thăm.
          Người ấy dừng lại nhìn tôi hơi bỡ ngỡ, nhưng khi thấy tôi đứng chỉ một mình với đống hành lý thì chàng hiểu ra ngay, đi tới bên tôi lịch sự - Thưa cô, chắc cô muốn hỏi thăm đường?
          - Tôi muốn về viện đại hoc, mà trời thi khuya quá.Một SVSQ Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt
Người ấy vội reo lên.
          - Thế thì chúng ta gần như cùng chung một con đường, nào cô hãy theo tôi.
          Nói xong anh chàng tự nhiên xách chiếc va ly nặng nhất của tôi lên, bưóc đi ngay. Vẻ nhanh nhen, mạnh mẽ của chàng cuốn lấy tôi theo. Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện, không khí tự nhiên trở nên thân mật bất ngờ.
          - Thưa ông, tôi là Ngọc, ở Sai Gon lên đây để theo học trên này.
          - Còn tôi là Hải. Tôi sinh ra và lớn lên ở đây, chưa biết đến Sài Gòn bao giờ. Hồi còn đi học, tôi cứ mong ước mãiĩ là khi nào lên đại học thì sẽ về Sài Gòn để học. Thế nhưng vừa mới bước chân lên đại hoc thì không còn thời gian nữa. Cô biết đấy, chúng ta đang sống trong thời chiến. Tôi không còn chọn lựa, và rồi lại vẫn ở trên này. Cũng tốt thôi, ít ra tôi còn được ở thêm Đà Lạt vài năm nữa.
          - Ông là sinh viên cuả trường nào vậy? Tôi nghe nói rằng trên này có hai quân trường, trường Võ Bị Quốc Gia và...
          - Trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị. Thưa cô, tôi là Sinh viên Sĩ quan của trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị.


          Tôi đi sát vào người con trai để nấp cơn gió lạnh đầu tiên khi màn đêm vừa buông xuống. Đà lạt vào đêm ngày ấy thật nồng nàn quyến rũ. Những ánh đèn xa xa thấp thoáng trên những ngọn đồi mờ mờ sương khói. Ttrong vườn, ngoài ngõ nhà ai hoa tường vi nở rộ những chùm bông màu hồng lợt cho tôi cái cảm tưởng như đang bước vào một thế giới thần tiên khác hẳn Sài Gòn ồn ào và náo nhiệt. Tự nhiên tôi thèm một không khí thân mật thương yêu. Đi thật sát gần như đụng vào người Hải, tôi lại hỏi chàng.

          - Tại sao ông lại chọn trường đại học Chiến Tranh Chính Trị.
          - Trả lời được câu hỏi của cô cũng dài dòng lắm vì có rất nhiều nguyên nhân.
          Tôi chỉ xin vắn tắt thế này, dù là trường Võ Bị hay trường tôi thì đều vẫn là trường hiện dịch, có nghiã là chúng tôi sẽ gắn bó với quân đội suốt cả một đời. Tôi yêu cuộc đời còn đi học lắm, thành ra chọn trường đại học Chiến Tranh Chính Trị cho tôi đôi lúc còn nghĩ rằng mình là một sinh viên. Vả lại, kẻ thù của chúng ta nham hiểm quá, chúng tôi cần trang bị cho mình một số kiến thức tối thiểu đủ để truyền đạt cho người lính, bẻ gãy những tuyên truyền mê hoặc của bọn chúng.
          Tôi mỉm cười thích thú trước câu trả lời duyên dáng của chàng. Đêm hôm đó, Hải giúp đưa tôi về viện đại học và hoàn thành các thủ tục nội trú xong mới ra về.
           Chàng, chỉ cho tôi một ngọn đồi không xa lắm, bảo rằng đó là nơi chàng đang theo học. Vì bận rộn với những hành lý ngổn ngang, tôi quên đi cả lời cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Hải. Rồi chúng tôi chia tay nhau mà không biết gì thêm ngoài cái tên gọi.

          Về sau, khi đã quen thuộc với những con đường Đà Lạt, nhiều lúc tôi muốn ghé vào trường để cảm ơn sự giúp đỡ đầu tiên ấy nhưng ngại ngùng không biết phải làm sao.
          Thời gian trôi, tôi quen dần với cuộc sống của một sinh viên nội trú, và vùi đầu vào niên học mới. Những trang sách và tháng ngày đầu tiên trên đại học quyến rũ làm tôi quên hết cả xung quanh, dần dần quên đi cả cái đêm nào bỡ ngỡ, và người con trai mới gặp...
          Trời đã gần trưa. Nắng đã lên cao. Đà Lạt bây giờ đang chìm trong biển nắng. Từ trong hành lang của khách san bên cạnh hồ Xuân Hương tôi có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn dưới chân đồi. Kìa là đường Võ Tánh nằm quanh co theo bờ hồ rồi khuất dần theo những hàng cây.
           Con đường này chính là con đường tình sử. Chúng tôi đã hò hẹn, đợi chờ để cùng nhau đi song đôi trong nhưng ngày chúa nhật. Đã giận hờn chờ đợi những lời dỗ dành như trẻ thơ. Từ con đường ấy rẽ ra hai ngõ vào hai trường đại học của hai đứa chúng tôi. Tôi vẫn chìm vào trong những ngày xưa cũ không để ý đến Thức - chồng tôi - đã dậy, đang đứng cạnh tôi tự bao giờ.
          - Sao thức dậy sớm vậy em, lại không mặc áo lạnh vào, cảm chết.
          - Còn sớm gì nữa, em đang chờ anh dậy để đi quanh một vòng Đà Lạt.
          - Thế thì em bảo tài xế cho xe ra đi, mình kiếm chỗ nào ăn sáng luôn.
          - Không, em muốn đi bộ dạo quanh hồ Xuân Hương một vòng. Này anh xem, người ta có cả xe đạp nước cho thuê, em muốn được chơi trên mặt nước. Mình sẽ lên nhà thủy tạ bằng cách ấy.
          - Thôi thôi, đồi núi đèo dốc thế này ai mà đi cho được, anh không muốn ngồi trên cái thùng cỏn con ấy, anh đâu có biết bơi lỡ ngã xuống nước thì khốn.


          Tôi nhìn lại Thức, người phì mập, bụng to hơn ngực. Chồng tôi không bao giờ tập thể dục hay khép mình vào một kỷ luật nào, trừ tiền bạc. Anh chàng nuông chiều thân xác, luôn luôn theo bản năng không kể gì đến thể diện và tư cách. Tôi nhớ lại ngày xưa có lần bị gọi đi nhập ngũ, Thức đã mếu máo đến khổ sở nhờ cha tôi can thiệp cho được miễn. Những ngày đầu di tản, khi còn ở trong trại tam trú, Thức luôn luôn than phiền về những tiện nghi thiếu thốn. Mỗi lần loa phóng thanh kêu đi lãnh thực phẩm là chàng vội vã lính quýnh như lúc đi chạy giặc chỉ để mong được sắp hàng đầu tiên. Tôi chán chường nhìn Thức.
          - Anh muốn đi đâu làm gì bằng xe thì cứ đi đi, kệ tôi. Tôi muốn đi bộ, dạo quanh một vòng Đà Lạt
          Thức nhìn tôi ngạc nhiên. Mặc kệ chàng cáu giận đi tới đi lui, tôi lại chìm vào dĩ vãng....
          ...Thời gian trôi trong những tiếng cười của cuộc đời sinh viên hoa mộng. Vào một ngày mùa hạ, trong một buổi đi cắm trại ngoài trời, tôi và các bạn cùng lớp nô đùa trên những hòn đá lớn trong vũng nước lặng ngay dưới chân thác Prenn. Khúc suối này ăn sâu vào trong bờ đá nên mặt nước ở đây yên lặng hiền hòa, nhưng nếu ra xa ngoài kia vào giữa giòng suối thì nước chảy xiết nguy hiểm vô cùng. Tôi vẫn tự hào rằng mình bơi rất giỏi nên chẳng để ý gì đến những lời cảnh cáo của bạn bè, tha hồ nhảy nhót tung tăng trên những hòn đá, cho đến khi trượt chân ngã xuống dòng nước đang chảy mạnh.
          Dù cho cố gắng hết sức tôi vẫn không thể bơi vào. Những làn nước vô tình kéo tôi đi xa dần. Tôi cảm thấy đã gần kiệt sức. Cố gắng vùng vẫy ngoi lên mặt nước tôi, tôi kêu lên những lời cầu cứu trong tuyệt vọng.

          Bạn bè tôi trong bờ chỉ còn biết kêu những tiếng thất thanh chứ chẳng ai dám bơi ra cứu tôi lúc ấy. Cho đến khi tôi không còn hơi sức nữa, buông trôi theo dòng nước thì chợt thấy có người bơi lại phía tôi, rồi thì cả thân thể tôi được kéo trồi lên mặt nước. Một vòng tay khỏe mạnh, rắn chắc quàng chặt lên người tôi. Phản ứng tự nhiên của một người đang gặp hiểm nguy, tôi vội bám chặt lấy cái phao êm ái ấy không rời.
           Trong lúc nguy ngập và bối rối tôi không còn nghĩ gì đến thân thể của mình đang nằm gọn trong vòng tay người con trai mạnh khỏe kia. Rồi tôi bàng hoàng nhận ra người con trai ấy chính là Hải. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi thấy Hải một tay ôm chặt lấy tôi, còn tay kia bám vào một sợi dây đang được một đám người đang đứng ở trên bờ kéo vào bờ.Tất cả bọn họ dều mặc quân phục màu xanh lá cây rừng với những chiếc alpha màu xanh da trời trên cổ áo. Tôi chỉ biết được đến thế rồi ngất lịm đi trong sự mỏi mệt, nhưng êm ái vô bờ.
          Vào được trong bờ, Hải bế tôi đặt lên một chiếc Poncho mà các bạn chàng đã trải sẵn tự lúc nào. Đám bạn gái chạy đến bao quanh lấy tôi, trùm lên thân thể tôi đủ thứ, quần áo, khăn quàng. Có đứa cẩn thận hơn xoa bóp tay chân tôi đang tê cứng vì ngâm lâu trong nước lạnh. Gần cả tiếng đòng hồ sau tôi mời ngồi dậy được khi những mảnh áo quần khô ráo đã làm ấm thân tôi. Lúc ấy Hải và đám bạn tiến lại, chàng mỉm cười hiền hậu hỏi tôi.
          - Khỏe chưa cô Ngọc, lần sau đừng nhảy vào những tảng đá ngoài xa kia như thế, nguy hiểm lắm.
          - Rồi chàng giới thiệu các bạn bè của chàng với chúng tôi. Tôi ngạc nhiên khi thấy ai cũng bắt đầu bằng vần H như Hải. Thì ra họ cùng chung một tiểu đội đang làm công tác dân sự vụ ngay đây. Tôi càng sung sướng hơn khi thấy Hải vẫn còn nhớ đến tên tôi.
          Từ sau ngày ấy, tôi bắt đầu nhớ nhung và mơ mộng, sung sướng đón nhận tình yêu. Tôi - người thiếu nữ trong tình yêu thuở ấy mắt long lanh sáng, má và môi hồng như hoa đào buổi sớm, lời nói như chim hót bình minh. Bạn bè tôi khen tôi bỗng đẹp hơn, yêu đời hơn sau ngày xẩy ra tai nạn, một tai nạn đáng yêu nhất trong cuộc đời tôi.
          Thứ bảy đầu tiên vào trường thăm Hải, chúng tôi đã ngồi suốt cả ngày trong câu lạc bộ sinh viên sĩ quan. Rồi sáng hôm sau chúa nhật khi Hải được phép ra ngoài dạo phố, chúng tôi dành trọn cho nhau. Tôi ngạc nhiên khi thấy mình quá dạn dĩ và buông thả, và chính Hải cũng đáp ứng sự nồng nhiệt của tôi không kém. Tình yêu đã cho tôi đôi cánh để bay lên đến một vườn hoa thần tiên đầy hương sắc.
          Tôi trở lại phòng mình. Không thấy Thức, có lẽ anh đã đi lo công chuyện của mình. Chuyện làm ăn, sinh lợi lộc không bao giờ chồng tôi bỏ qua. Thức liên lạc, hợp tác với các viên chức chính quyền Cộng Sản bây giờ tự nhiên như chàng đã làm với chính quyền Việt Nam ngày trước. Đối với chồng tôi chuyện đất nước, dân tộc không đáng kể bằng những trương mục trương nở trong ngân hàng.
          Ai đói, ai nghèo, khổ sở lầm than ra sao, chàng không bao giờ nghĩ đến. Có lẽ chữ Trung Hiếu Tiết Nghĩa đối với chàng chĩ là những điều trong sách vở. Một lần lâu lắm, sau ngay mất nước, khi đã yên lành ở Mỹ, đọc báo thấy nói đến các vị tướng tuẫn tiết chứ không chịu đầu hàng hay chạy theo Mỹ. Thức bảo tôi.
          - Mấy ông này đã làm đến tướng mà còn dại quá. Máy bay nó đến rước tận nơi mà lại không đi rồi còn bắn vào đầu mình.

          Lần ấy tôi đã buồn lại càng buồn hơn. Biết rằng có nói, có giải thích thế nào cũng bằng vô ích. Trong cái đầu óc vị kỷ kia, không có cái gì cao quý hơn tiền bạc. Tôi cảm thấy mệt mỏi, chán ngán vô cùng. Trong đời ai cũng có những lần lầm lỡ. Nhưng sự lầm lỡ của tôi to lớn quá. Tôi đã phải trả giá cho sự lầm lỡ của mình bằng cả một cuộc đời tôi.
          Tôi nằm dài xuống giường nhìn qua song cửa. Những đám mây trắng bạc bay hững hờ trên những dãy núi mờ xa, cái không gian này đã quen lắm trong ký ức ngày xưa....


          …Càng có dip gần nhau tôi lại thấy nhiều đức tính tốt nơi con người Hải, chàng hiền lành, ngay thẳng và chăm chỉ. Hải kể cho tôi nghe về những sinh hoạt hàng ngày, những môn, những giờ học mà chàng ưa thích. Với những môn mà chúng tôi cùng học giống nhau như bang giao quốc tế, sử quan thì nói không bao giờ hết chuyện.
           Đôi lúc Hải lại nói về một vài môn học mà chàng ưa thích như nhân chủng học của giáo sư Nghiêm Thẩm, và tôi thường trêu Hải trong những bài học nhân chủng mà chàng kể cho tôi nghe về những giống người còn sống bán khai hoang dã trong dãy núi Trường Sơn.

          - Em biết không tuần này tụi anh đang học về người Hmong, ở đó những người con trai có thể dùng trâu để mua những nàng con gái, nếu họ có nhiều trâu thì mua bao nhiêu vợ cũng được. - Thế chắc là anh thích đến nơi đó lắm phải không?
          Không để ý đến câu hỏi ngoắt ngoéo của tôi Hải thành thực trả lời.
          - Anh thích đến đó lắm. Anh vẫn mơ ngày đất nước thanh bình, sẽ được tự do đi khắp mọi nơi để biết dân mình đang sống ra sao, và nhất là những phong tục, tập quán của từng nơi, từng chỗ.
          - Chứ không phải vì anh thích vì có thể mua được bao nhiêu vợ nếu muốn à.
          Hải chợt hiểu ra ý cuả tôi, chàng hiền lành giải thích.
          - Không phải thế em ạ, anh có em là đã quá đủ, là may mắn cho anh lắm rồi. Không bao giờ anh tham lam đèo bòng như thế.
          Tôi biết tính Hải và tin nhũng điều chàng nói. Tôi tin ở tình yêu của chàng chân thật, hiền lành như những cây thông Đà lạt. Hải vẫn thường nói với tôi về mơ ước sẽ có một ngày được đi đến những chân trời xa lạ đầy những thích thú bất ngờ như những trang sách nhân chủng kia. Tuy yêu nhau và hiểu tính nhau như thế nhưng chưa bao giờ chúng tôi nghĩ đến ngay mai, đến hôn nhân vì cả hai đều còn trẻ và chưa có một chút vốn liếng gì cho tương lai cho dù là học vấn.

          Năm Hải tốt nghiệp, ra trường để lao vào trận điạ cũng là năm mà gia đình tôi lo xong thủ tục cho tôi xuất ngoại. Tôi muốn cùng Hải về lại Sài Gòn trong những ngày chàng nghỉ phép mãn khóa để giới thiệu với cha mẹ tôi. Hải cảm động, lần đầu tiên tôi thấy chàng run run khi nắm tay tôi, đặt lên trái tim, nói trong hơi thở.
          - Anh thật may mắn có được người yêu như em. Anh sẽ không bao giờ làm gì để em buồn, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
          Tôi nũng nịu sa vào lòng Hải.
          - Chỉ cần anh yêu em, thương em là đủ rồi.
          - Anh yêu em nhiều lắm. Anh đã yêu em những ngày qua, yêu em hôm nay. Thề có đất trời là anh sẽ yêu em mãi mãi.
          Chúng tôi hẹn sẽ gặp nhau trong một quán nước đối diện cửa nhà vì cần thưa với cha mẹ tôi trước khi dẫn Hải về ra mắt.

          Cha tôi là một nhân vật cao cấp trong chính quyền thời ấy, rất khó khăn và nghiêm khắc. Không may cho hai đứa chúng tôi là trước khi thưa chuyện, cha mẹ cho tôi hay rằng gia đình đã lo xong thủ tục để tôi xuất ngoại, và những người bạn đồng sự muốn mai mối để hỏi tôi cho con của họ. Hai người thi nhau kể cho nghe cả một loạt tên các cậu ấm giỏi giang thành đạt. Ai cũng sẽ là bác sĩ, kỹ sư trong tương lai. Bọn họ đang du học tại nước ngoài, không hề biết đến đất nước đang đắm chìm trong chiến tranh.
          Nhìn nét mặt vui vẻ, rộn ràng của mẹ cha khi nói về tương lai, tự nhiên tôi đâm ra rụt rè, lo sợ không dám nói chuyện về Hải như dự định. Tôi nhìn sang bên kia đường, bóng chàng ngồi trong quán nứơc đợi chờ, yên lặng đợi chờ. Suốt buổi sáng hôm đó, tôi cố gắng liên lạc với Hải mà chưa có dịp. Buổi trưa tôi phải theo cha mẹ đi đến ăn cơm ở nhà một ngừơi bạn thân của cha tôi. Tiệc tùng trò chuyện kéo dài đến tận khuya.
          Tôi không thể còn đi đâu được vì Thức, con trai của bạn cha tôi vừa mới ở ngoại quốc về thăm nhà, đi theo tán tỉnh, mà cha mẹ tôi lại rất hài lòng. Khi trở lại nhà đã quá mười giờ đêm, ngồi trên xe, nhìn vào quán nước, tôi giật mình vì thấy Hải còn đó, ngồi yên, bất động như pho tượng.Tôi chạy vội lên lầu mở tung cánh cửa, bước ra lan can nhìn xuống. Hải đứng dậy đi nhanh về phía cổng nhà tôi, rồi đứng lại như suy nghĩ.
           Vài phút sau anh quay ra, lặng lẽ bước về quán trọ. Tôi đứng nhìn theo, lòng hối hận tự trách mình không đủ can đảm nói với mẹ cha, để Hải phải chờ đợi cả một ngày dài.Tối hôm đó tôi vật vờ trong giấc ngủ muộn màng, mãi tận gần trưa hôm sau mới ngồi dậy nổi. Cha tôi đã đi đến sở từ sáng sớm chỉ còn có mẹ.
           Tôi mở cửa nhìn sang bên kia đường giật mình thấy Hải đã ngồi đó tự bao giờ. Tôi vào phòng mẹ, ôm lấy bà rồi bật khóc, lấy hết can đảm để nói chuyện của tôi và Hải. Mẹ tôi chỉ yên lặng ngồi nghe không nói. Một lúc lâu mẹ cho chị người làm mời Hải vào nhà, mẹ nói.
          - Chúng tôi đựơc cháu Ngọc nói chuyện về anh. Tôi cũng mừng là cháu đã được anh để ý đến, xin cám ơn anh. Nhưng mà cháu còn bé bỏng, chúng tôi muốn đưa nó ra ngoại quốc học thêm vài năm nữa. Mẹ tôi người Bắc, con nhà nho giáo, khéo ăn khéo nói.

           Lời từ chối của bà nghe cũng ngọt ngào êm ái như chứa đầy những thương yêu. Hôm đó, hai đứa chỉ được nói chuyện với nhau trước mặt mẹ tôi. Hải nhiều lần như muốn nói điều gì, song chàng nín lặng. Cho đến lúc chào mẹ tôi quay ra, anh nhìn tôi thì thầm bảo.
          - Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, anh cũng yêu và chờ em mãi mãi.
Tôi tin lời nói thành thực ấy. Tôi biết rằng Hải yêu tôi, chỉ một mình tôi trong suốt những tháng ngày ở Đà lạt, dù có nhiều bạn tôi rất thích chàng. Thế là chúng tôi xa nhau với những lời thề thốt gắn bó keo sơn. Hải không ngăn cản tôi trong con đường học vấn, chàng cũng không hề bày tỏ nỗi lo sợ sẽ mất tôi mà chỉ nhấn mạnh rằng chàng là con người hơi khó khăn khi chọn lựa, mà khi đã chọn lựa rồi thì không bao giờ thay đổi.
          Tôi là người đầu tiên đưa chàng vào tình yêu diễm tuyệt. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì tình yêu đầu tiên này sẽ là mãi mãi. Tôi cũng dùng đủ mọi danh từ hoa mỹ thề thốt, để chàng tin rằng tôi cũng nghĩ như chàng.
          Nhưng rồi hoàn cảnh của chúng tôi ngày càng khác biệt. Tôi đã quen thuộc với đời sống xa hoa và tiện nghi vật chất, mà Hải thì lại cứ bận rộn hành quân chinh chiến, nên dù có dịp về thăm nhà trong những kỳ nghỉ hè chúng tôi cũng ít có dịp gặp nhau. Một ông văn sĩ lãng mạn nào đó đã định nghiã rằng tình yêu là sự va cham của hai làn da, có lẽ cũng không có gì là sai, nếu so sánh trong trường hợp của tôi.
           Chúng tôi có quá nhiều thời gian xa cách, rồi cuộc sống tự do nơi xứ người đã thay đổi tâm hồn tôi. Tôi cần những sự đụng chạm, những môi hôn, những lời thầm thì yêu đương, mà Hải và tôi không thể sống gần nhau. Những ngày, những tháng, những năm nối tiếp nhau qua. Tình yêu với Hải trong tôi dần dần cũng phôi pha theo ngày tháng.
          Một ngày mùa thu, khi trở lại Việt nam, tôi theo một chiếc trực thăng lên tiền đồn miền biên giới thăm Hải. Chúng tôi gặp nhau không nói được thêm điều gì. Hải thường bảo chàng là mội sĩ quan, lo trước nỗi lo và vui sau niềm vui của lính. Tôi bày tỏ ý muốn nhờ uy thế của cha, giúp đỡ chàng về một nơi tốt hơn, có cơ hội thăng tiến và đi du học, nhưng Hải từ chối. Chàng không muốn nhờ vả gia đình tôi dù bất cứ điều gì. Tôi, có lẽ vì mặc cảm, bùng lên cơn giận.
          - Anh nghĩ lại coi, từ trên xuống dưới ai cũng mong có người che chở, không ai gàn bướng như anh.
          Hải không nói gì, chàng yên lặng nhìn vào khoảng không xa thẳm. Có lẽ trong đầu óc chàng không mấy thích gia đình tôi khi ấy. Tôi nghĩ rằng chàng đã đánh giá tôi và gia đình thuộc thành phần, mà trong tâm hồn Hải có sự rẻ khinh, chỉ biết tìm điều lợi cho mình mặc cho đất nước đang bị xâu xé bởi chiến tranh. Càng nghĩ cơn giận trong tôi càng bùng lên mãnh liệt. Lần đầu tiên kể từ lúc yêu nhau chúng tôi cãi vã. Tôi giận dỗi về lại Sài gòn, hàng mấy tháng không thèm viết thư cho Hải.
          Rồi một ngày kia ở nơi xứ người, tôi gặp lại Thức - Con của bạn cha tôi, người đã tán tỉnh tôi dạo trước - Thức đi du học trước tôi cả sáu bảy năm, đã sành sỏi và thành công trên đường đời. Sự thành công được đánh giá bằng giàu sang và danh vọng. Tôi quên hẳn một ngày xưa, trước khi đi du học Thức đã mếu máo khổ sở, lợi dụng sự quen biết tìm đến cha tôi nhờ can thiệp cho chàng khỏi vào lính như những thanh niên khác.


          Chúng tôi về lại Việt Nam. Cả hai gia đinh đều vui mừng vì môn đăng hộ đối. Thế rồi chúng tôi kết hôn ngay sau đó. Một đám cưới rềnh rang, xa hoa và lãng phí được tổ chức trong lúc chiến cuộc diển ra dữ dội kinh hoàng. Ngày tôi ngồi trên chiếc xe hoa lộng lẫy muôn màu về làm vợ Thức, thấy những chiếc xe nhà binh chở người ra trận địa, lòng chợt nao nao nhớ đến ngày xưa và Hải. Không biết giờ này chàng ở phương nao?
          Tháng tư 1975 trong lúc Sài Gòn đang hấp hối, trên chuyến xe vội vã ra phi trường tôi chợt nhìn thấy Hải và những người lính cuả anh dưới một giao thông hào mới được đào để phòng thủ ở ven đường. Nhìn vẻ hoảng hốt lo sợ quá đáng của Thức thật tương phản với nét rắn rỏi và vẻ bình tĩnh ngòai kia của Hải, tự nhiên trong lòng tôi dâng lên niềm thương cảm và hối hận.
           Phải, từ ngày tôi lập gia đình, đã bao nhiêu lần tôi nhận được thơ của Hải, vẫn những chuyện hành quân trên đường xa vạn dặm, vẫn những lời yêu thương tha thiết nồng nàn, vẫn một lòng dạ thủy chung chưa hề biết đến tôi đang bội phản. Chàng còn xin lỗi đã làm tôi không đựơc vui trong những một ngày lên thăm dạo trước, và cố phân trần giải thích rằng chàng chỉ muốn tự lập, tự định đoạt cuộc đời mình. Tôi không dám trả lời Hải. Cho đến một ngày kia biết ra sự thật, Hải vẫn không óan hờn, trách cứ mà lại nhận lỗi về mình. Chàng xin lỗi vì đã bỏ tôi chờ đợi trong nhiều năm tháng lạnh lùng, và cầu chúc cho tôi có được cuộc đời hạnh  phúc.

          Từ đó, sau ngày mất quê hương, sống bên chồng nhưng tôi không thể nào quên được hình ảnh Hải với gương mặt bình thản, lạnh lùng, trong chiều di tản....
          Tiếng ai gõ cửa làm tôi tỉnh giấc. Người nhân viên phục vụ lễ phép trong khách sạn mời tôi.
          - Thưa bà, ông nhà cho mời bà xuống nhà ăn dùng bữa.
          Tôi thay quần áo, trang điểm qua loa rồi bước theo sau người nhân viên đang còn chờ ngoài cửa. Đi qua một dãy hành lang dài tôi bước xuống cầu thang chật hẹp vào phòng ăn được bài trí thật sang trọng dành riêng cho ngọai kiều và cán bộ. Thức đang khoa tay múa chân nói chuyện với ba người đàn ông lạ. Hai người mặc thường phục, áo quần thuộc loại đắt tiền, có thắt cà vạt. Người thứ ba là một viên công an. Ông ta mặc đồng phục màu vàng, vai đeo xà cột, trên cổ áo có gắn cấp hiệu. Mấy ngôi sao trên miếng vải đỏ tươi như máu. Thấy tôi Thức đứng lên giới thiệu.
          - Thưa các anh, đây là nhà tôi.
Quay sang tôi anh tiếp.
          - Đây là hai đồng chí trong ban lãnh đạo thành phố, còn đây là đồng chí chỉ huy công an.
          Tôi gật đầu chào những người đầy tớ của nhân dân đang ngồi bảnh chọe trên những chiếc ghế nệm dầy, trong lúc các món ăn đang được dọn ra. Hai ba người nhân viên vội vã kính cẩn đang chờ sai bảo. Người mặc sắc phục công an nhìn tôi chằm chằm như dò xét. Cái nhìn đầy vẻ trịch thượng của một kẻ nghĩ rằng mình đang có uy quyền, pha lẫn những khát khao thèm muốn.

          Tôi bỗng nhớ đến chị Tâm bạn tôi kể cho nghe những ngày tháng đi thăm chồng cải tạo. Có những bà vợ lính bị chúng lợi dụng những đêm tối cô đơn, vắng vẻ để cưỡng hiếp mà không dám than thở, thưa gửi cùng ai. Khi những lời mời chào, chúc tụng khách sáo qua đi, cả ba người đều hục vào ăn uống sảng khoái.
           Họ vừa ăn vừa nói bô bô như không còn có ai ngoài họ. Cái cấp hiệu màu đỏ tươì như máu kia làm tôi nhớ lại những sợ hãi, hốt hoảng hai mươi năm trứớc khi chạy lên tàu tìm đường trốn ra khỏi nước. Bây giờ nhờ những đồng tiền lại được ngồi đây, đựơc tiếp đón. Tự nhìên tôi muốn buồn nôn cuộc đời. Tôi ghê tởm chính tôi, ghê tởm cả bốn thằng đàn ông đang ngồi trước mặt. Tôi lại nhớ đến Hải và những ngày xưa...

          ...Mấy năm sau ngày di tản, tôi đựơc tin Hải bị lưu đày nơi núi rừng Việt Bắc cùng với chồng của một chị bạn học ngày xưa. Khi chị ấy vượt biển sang được miền đất tự do, chúng tôi có dịp gặp nhau, có nhiều thì giờ kề cho nhau nghe.
          Tôi được biết chồng chị đã chết vì kiệt sức, còn Hải thì bị chúng giam cầm riêng trong ngục tối vi trong những ngày cuối cùng chàng không chịu tuân lệnh Dương Văn Minh cho lính buông súng đầu hàng. Đáng lẽ ra Hải đã bị xử tử, nhưng vì mẹ chàng tình cờ gặp lại một người em làm lớn ở phiá bên kia. Bà đã cố gắng lạy van người em cứu con mình nên bản án tử hình của Hải không đem ra thi hành.
          Nhưng dù không giết chàng ngay khi ấy, vì nhân danh khoan hồng và nhân đạo, vì tình nghiã gia đình, người Cộng Sản tìm cách giết Hải dần dần bằng những trận đòn tra tấn, thù hằn. Chúng nghĩ rằng trong đầu óc chàng chứa đựng cả một âm mưu ghê gớm, chống lại chúng. Không bao giờ người Cộng sản biết được Hải đã nghĩ gì, và đổi lại chàng phải gánh chịu những cực hình man rợ nhất. Tôi bỗng nhớ đến đôi mắt Hải, đôi mát sáng và trong như tâm hồn của chàng. Ngày ấy, mỗi lần hát cho tôi nghe những bản tình ca thì đôi mắt kia cũng nhìn tôi đắm đuối.

          Cuộc sống của chúng tôi ở nước ngoài vô cùng thoải mái, Thức lúc nào cũng khôn ngoan trong công chuyện làm ăn và chưa bao giờ chồng tôi thất bại. Tiền bạc vật chất dư thừa không làm tôi cảm thấy vui tươi trong cuộc sống. Tôi luôn luôn bị ám ảnh rằng còn thiếu Hải một món nợ không bao giờ trả nổi bằng những vật chất dư thừa mà tôi đã có. Những lời hẹn hò ngày xưa thật ra không bay theo gió.
           Chúng vẩn hiện hữu trong tâm hồn tôi hôm nay đề nhắc nhở rằng tôi chỉ là một người đàn bà bội phản, một người đàn bà giối gian trong một cuộc tình tươi đẹp nhất, một người đàn bà ham giàu sang danh vọng mà quên đi cả những lời thề trang trọng trong đời.
          Tôi cố gắng tìm mọi cách để liên lạc và giúp đỡ Hải khi được biết chàng được thả ra, nhưng vô ích. Hải tìm đủ mọi cách tránh né và từ chối sự giúp đỡ vật chất của tôi cho dù chàng thiếu thốn. Đã mấy lần tôi kín đáo nhờ cậy bạn bè, dò la tin tức nhưng cũng chỉ biết đại khái rằng chàng đã được thả ra sau bảy năm tù tội.

          Rồi khi có chương trình ra đi nhân đạo dành cho những cựu tù nhân, tôi vẫn hồi hộp đợi chờ sẽ có một ngày gặp lại Hải trên miền đất tự do. Nhưng chờ mãi cho đến khi không còn kiên nhẫn nữa, tôi đành phải nhờ người chị cùng học với tôi ở Đà lat khi xưa lên tìm Hải, và tôi được biết rằng Hải không có ý định ra đi.
          Hôm qua, trước khi lên Đà lạt, tôi đã nói chuyện nhiều với chị Tâm về Hải. Tôi cũng cho chị biết là tôi sẽ lên đây tìm Hải vì chị cho biết Hải vẫn ở ngôi nhà ngày trước, nhưng bây giờ thì mẹ chàng không còn nữa. Có điều không hiểu sao chị Tâm không hề khuyến khích tôi mà lại có ý ngăn cản tôi đừng lên.
          - Ngọc à, chị hỏi thực, em có còn yêu Hải nữa không?
          - Sao vậy chị, chị có biết rằng em về đây chỉ là để gặp lại Hải một lần. Bao nhiêu năm đã qua rồi, bây giờ em chắc chắn nói với chị rằng trong đời em, em chỉ yêu một mình Hải mà thôi.
          - Chị biết chứ... nhưng mà..
          - Nhưng mà sao hả chị, hay là Hải đã có gia đình. Nếu thế thì em cũng mừng cho Hải và đúng như chị nói, em không nên lên trên ấy.
          - Không phải đâu, Hải vẫn còn độc thân. Chị biết Hải vẫn còn yêu em, chắc chỉ yêu có mình em thôi. Nhưng mà…
          - Thế là đủ rồi. Thế thì em lại càng nên gặp Hải để xin anh ấy một lời tha thứ. Em cũng muốn khuyên anh ấy nên nghĩ đến mình mà hãy lập gia đình để có người lo cho lúc về chiều.
          - Thôi tùy em đấy, nhưng theo chị nghĩ người như Hải chắc chẳng nghe ai...
          Tôi muốn đi bộ một mình trên những con đường xưa để nghe thấy lòng mình rung động theo từng sự đổi thay của cảnh vật. Nắng lên, Đà Lạt đắm chìm trong ánh sáng. Tôi nghe thoáng đâu dây tiếng suối reo trong rừng thông vắng. Gió êm đềm chở những hương thơm của muôn loài hoa Đà lạt bay bay trong không gian sáng trong như ngọc. Ngày xưa Hải vẫn thường nịnh khi anh bảo rằng đời anh may mắn có một viên ngọc quí là tôi.
           Anh thường nói rằng “mỗi sáng, nắng lên cao, nhìn cây cỏ xanh tươi chìm trong ánh nắng, anh cứ tưởng đến những viên ngọc bích, và anh lại nghĩ tới em”. Hôm nay trong khúc đường quanh co của một không gian xưa cũ, tôi vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây tiếng thầm thi êm dịu cuã Hải rót vào tai tôi những lời mật ngọt yêu đương…

          Qua khỏi con dốc vắng là đến con đường dẫn đến khu nhà nằm ở ven đồi. Ngày xưa không biết bao nhiêu lần tôi đi ngang qua chốn này để đến thăm mẹ Hải, để chờ đợi chàng trong những chúa nhật đựơc phép ra ngoài dạo phố. Nhà của Hải không lớn lắm nhưng hoa hồng thì lại rất nhiều. Những bụi tường vi uốn ngoài đầu ngõ phô bày những chùm hoa mơn mởn tươi xinh, những đóa hồng đỏ thắm, vàng tươi, trắng muốt. Cả một rừng màu sắc rực rỡ như tuổi thanh xuân quây quần lấy hai chúng tôi dạo ấy.
          Tôi dừng lại trên đầu dốc, ngạc nhiên nhìn con đường quanh co phiá dưới chân đồi, chẳng còn gì ngoài những vạt đất khô cằn, những bức tường đổ nát loang lổ rêu bụi phủ mờ. Cả một thôn xóm trù phú tươi xanh ngày xưa đã bị giải phóng cuốn trôi đi chỉ còn lại đổ nát, lở lói hoang tàn. Tôi lần xuống con đường hỏi thăm bà cụ đang ngồi thái khoai bên túp lều gần đó.
          - Cụ ơi cho con hỏi thăm.
          Bà cụ ngửng đầu lên nhìn tôi đăm đăm khiến tôi hơi ngượng vì những gì mình đang khoác trên người. Dù đã cố gắng ăn mặc giản dị nhưng vẫn tương phản với nhưng rách rưới nghèo nàn chung quanh. Tôi đứng im lặng đợi chờ một sự cảm thông, giúp đỡ. Bà cụ ngừng tay, mời tôi ngồi xuồng chiếc ghế mây duy nhất đã rách nát xác xơ.
           -Cô muốn hỏi thăm ai?
          - Dạ cháu muốn hỏi thăm ông Hải. Cháu nghe mói ông ấy vẫn còn ở đây phải không, thưa cụ?
          - Có phải là ông Hải đang bị quản chế đó không? Thế cô là gì của ông ấy? Bây giờ chắc ông ấy không có nhà đâu. Nhà ông ấy ở ngay kia kià.
          Vừa nói bà cụ vừa chỉ đến một túp lều khác được dựng ngay trên nền căn nhà cũ. Đó chỉ là một mái tranh dựa trên một bức tường vôi duy nhất còn sót lại, chung quanh được che bằng những tấm tranh thưa. Đúng rồi, đó là nhà của Hài ngày xưa. Tôi còn nhớ chiếc cổng rào thưa trồng, những hàng cây tường vi hồng lạt. Không trả lời mà tôi lại hỏi ngay bà cụ.
          -Sao mà ở đây nhà nào cũng bị phá đi tan nát hết? Chắc lúc trước đánh nhau ở đây dữ lắm, phải không cụ?
          - Đâu có đánh nhau gì. Ngày mới vô các ông ấy nói là phải đi kinh tế mới, bắt dân rỡ hết nhà cửa mang lên rừng ở. Mấy năm ở trên ấy chẳng ai ngó ngàng gì đến, làm không đủ ăn nên lại lục đục kéo nhau về thì nhà cửa còn đâu.
          Thôi đành che tạm để có chỗ mà chui chứ biết làm sao. Nhìn quanh một lượt như để cho tôi thấy rõ hơn quang cảnh hoang tàn bà cụ lại tiếp. - Như cái chú Hải đây. Bà mẹ chú ấy mất ở trên rừng, lúc được thả về thì nhà chẳng còn gì. Cũng may là nhờ hàng xóm che tạm cho mái lều, chứ không thì thật khổ.
          - Thế ông Hải bây giờ làm gì thưa bác?
          - Chú ấy mà làm được gì ngoài cái mò mẫm đan giỏ ở tổ hợp mây tre xuất khẩu, vả lại người ta có cho chú ấy đi đâu đâu.
          - Sao vậy bác?
          - Thì chú ấy bị quản chế mà. Ai đời lại có người dại như chú ấy. Người ta cho đi sang Mỹ mà lại không chịu. Tôi hỏi tại sao thì chú ấy bảo đất nước của mình, mình ở chứ đi đâu. Thế là người ta lại càng nghi ngờ rằng chú ấy có âm mưu gì nên họ canh chừng dữ lắm, cấm không cho bước đi đâu.Thế, cô là gì của chú ấy?
          - Cháu là... cháu là..
Tôi chưa biết trả lời sao thì bà cụ lại chép miệng.
          - Chắc cô muốn làm vợ chú Hải chứ gì? Bữa trước cũng có mấy cô ở Sài Gòn lên đây muốn làm vợ chú ấy, nhưng mà chú ấy đâu có chịu.
Tôi ngạc nhiên hỏi dồn.
          - Muốn làm vợ anh ấy, thật không bác.
          - Sao lại chẳng thật, thì cô tính chú ấy còn độc thân lại có điều kiện đi Mỹ, ai mà chẳng muốn. Được sang bên ấy cái đã mọi chuyện tính sau. Có người lại còn đề nghị trả tiền cho chú ấy ngay bên này nữa chứ. Thế cô tìm chú ấy làm gì.
          Tôi nghẹn ngào.
          - Thưa bác, cháu không phải tìm anh Hải để mặc cà đi Mỹ đâu, cháu hiện nay đang ở Mỹ. Cháu chỉ muốn tìm anh Hải để trả cho anh ấy một món nợ, hay là xin anh ấy tha cho một món nợ ngày xưa.

          Bà cụ nhìn tôi chăm chú như để đo lường câu nói. Khi những giọt nước trên mắt đầm đìa nhỏ xuống, tôi nhận được sự cảm thông trong đôi mắt già nua trìu mến nhìn tôi. Ngừng tay bà lại kể.
          - Tôi ở đây, bên nhà chú Hải đã từ lâu lắm.Tôi và bà mẹ chú ấy hàng xóm với nhau khi từ ngoài Bắc mới di cư vào đây. Tội nghiệp cho chú ấy, hiền lành thật thà. Hồi trước, tiếng là sĩ quan nhưng lúc nào cũng ngoan ngoãn, lễ phép với mọi người như thời còn đi học. Bây giờ thật là khốn khổ, trời lạnh thế này mà chú ấy không có cái chăn nào, phải đắp bằng mảnh bao bố cũ.
            Công việc thì chú ấy làm chậm lắm có bao giờ đủ ăn đâu, lấy gì mà may với mặc.
T
          ôi nhìn qua con đường đất đỏ. Phía bên kia là căn lều của Hải được cất trên nền nhà cũ. Tôi hỏi bà cụ.
          - Thưa bác, cháu muốn sang bên kia, chỗ nhà ông Hải. Cháu muốn chờ ở đấy để gặp ông ấy có đựơc không ạ?
          - Cô cứ tự nhiên. Lúc nào chú ấy về tôi sẽ nói cho chú ấy biết.
          - Xin bác đừng nói gì cả, cháu chỉ muốn dành cho ông ấy ngạc nhiên.

          Chào bà cụ tôi đi vào ngõ cũ, bồi hồi nhớ lại những lần hai đứa bước song đôi lên thềm với ước mơ ngày cưới. Nền nhà bây giờ nằm chơ vơ phơi sương gíó.Tôi nhận ra tấm phản cũ đã mòn nhẵn với thời gian. Màu gỗ bóng lộn sang trọng ngày nào giờ đây bạc thếch, ẩm mục. Chính ở nơi tấm thảm này, vào một đêm không trăng nhưng đầy sao sáng. Tôi không bao giờ quên đựơc đêm ấy, năm xưa.....
          ...Tôi nũng nịu đi sát người chàng, chiếc áo trận màu xanh còn nguyên mùi hồ cứng. Đêm yên lặng quá, chỉ có những vì sao thấp thoáng đang nhìn trộm chúng tôi. Ôi những vì sao long lanh tình tứ như đôi mắt của chàng. Những vì sao cách xa cả hằng triệu năm ánh sáng cũng đã biết và đồng tình với hai đứa chúng tôi. Mùi hoa hồng nhẹ nhàng làm tâm hồn tôi càng thêm đê mê rạo rực. Hải ôm lấy tôi hôn nhẹ lên môi rồi hỏi.
          - Có chuyện gì mà em nhắn anh phải ra gấp đêm nay? Em biết không, anh phải nhờ thằng bạn gác thế cho, rồi leo rào ra ngoài này. Mấy ông sĩ quan cán bộ mà biết đựơc thì anh nằm nhà kỷ luật ngay.
          - Đêm nay đẹp quá phải không anh. Trăng sẽ lên, và hoa sẽ nở những bông đầy hương sắc. Em chỉ muốn đựơc nằm trong vòng tay anh đêm nay, có được không anh.
          - Sao lại không được. Anh sẽ làm bất cứ chuyện gì có thể được để làm vừa lòng viên ngọc qúy nhất đời anh.
          Chúng tôi hôn nhau dài như chưa bao giờ được hôn nhau như thế. Chúng tôi hôn nhau say sưa như không bao giờ thỏa mãn. Tôi hiến dâng mà không hề nuối tiếc. Chúng tôi quấn quýt tan biến vào nhau cho đến khi gà gáy sáng....
          Tiếng ai nói lao xao ngoài ngõ làm cho tôi chợt tỉnh giấc mơ xưa. Ngoài sân nắng đã nghiêng nghiêng soi qua vách lá tranh thưa. Có tiếng chân người vội vã.Tôi ngửng lên nhìn thấy bà cụ hàng xóm bước vào báo cho tôi biết là Hải đang về. Tôi hồi hộp nhìn ra con đường đất ngoằn nghèo, giật mình thấy một người đang chống gậy mò mẫm từng bước đi tội nghiệp.
          - Đấy chú ấy về kia kìa. Tội nghiệp, hồi còn cải tạo chúng nó đánh cho khốn khổ, lại còn tra tấn, không biết vì sao mà đôi mắt hóa thành mù luôn. Tôi đứng lặng người nhìn người đàn ông tàn tạ mù loà, tội nghiệp, đang sờ soạng những bước đi về phía tôi mà không nói đựơc lời nào. Vẫn biết sự tàn phá của thời gian nhưng trời ơi, Hải của tôi ngày xưa giờ thay đổi đến thế này sao. Mái tóc rậm dài loà xòa điểm rất nhiều sợi bạc. Hai hố mắt sâu thẳm đen ngòm ghê sợ. Tới trước nền nhà người ấy tự nhiên dừng lại như vừa khám phá có điều gì khác lạ..
          - Ai, có ai đấy. Ai đang chờ tôi phải không?
Bà cụ toan lên tiếng, tôi đưa tay ra hiệu cho bà cụ đừng nói đến tôi.
          - Tôi đây chú Hải, sao hôm nay đi làm về sớm vậy.
          - Đang làm thì mấy thằng công an nó cho xe tới mời lên đồn làm việc, cứ khai đi hỏi lại những câu từ trước tới nay. Chẳng biết bao giờ chúng nó đề yên cho mình đây.
          Nói xong Hải ngồi sụp xuống gỡ chiếc nón mê đang đội trên đầu bỏ vào gậm phản rồi đưa tay vào túi móc ra bao thuốc lá, rút ra một điếu. Điếu thuốc cong queo thảm hại như cuộc đời của chàng. Hải vuốt lại sơ sài rồi run rẩy đưa lên môi. Chàng bật mãi chiếc bật lửa đã qúa cũ mấy mươi lần mà không hề cháy. Hải lại đứng lên lần mò đến bên bếp tro thổi tung lên để kiếm mảnh than còn sót laị. Chàng cầm lên thanh củi nhỏ, lấy tay sờ soạng xem còn hơi nóng. Khi châm xong điếu thuốc, kéo một hơi dài chàng lại nói tiếp với bà cụ.
          - Tháng này bên hợp tác xã họ bảo hàng bị trả về nhiều lắm thành thử ra họ chưa trả công cho mình. Từ hôm qua đến nay cháu phải ăn khoai. Có mấy củ đem đi tính để ăn trưa mà đã kịp ăn đâu thì chúng nó lôi đi.
          Hải mò mẫm đặt cái túi vải đang đeo trên vai xuống phản. Chàng lôi ra một miếng lá chuôi đựng mấy củ khoai lang luộc, một cái gói giấy nhỏ đựng ít muối tiêu. Chàng cúi xuống đưa tay sờ vào tấm phản để dò dẫm trước khi ngồi xuống. Hải cẩn thận tắt điếu thuốc còn đang hút dở trên môi đút lại vàotrong bao thuốc rồi mới bắt đầu ăn. Đôi bàn tay run run đưa củ khoai lên miệng. Bà cụ hàng xóm yên lặng nãy giờ mới lên tiếng.
          - Chú Hải à, có cô này...
Tôi đưa tay ra dấu ngăn cản nhưng không còn kịp nữa. Hải hơi giật mình song vẫn tiếp tục nhai miếng khoai đang còn trong miệng.
          - Cô nào bà nào nữa? Cháu đã nói nhiều lần nhờ bác là nếu họ đến thì bảo họ rằng cháu không có đi đâu hết. Đất nứơc mình đây thì mình có quyền ở chứ đi đâu. Mà nếu cháu có đi thì cũng không bao giờ làm chuyện gian dối để lấy tiền lấy bạc đâu.
          - Không, không phải cô này muốn chú đem sang Mỹ đâu. Cô ấy đang ở Mỹ rồi, chỉ muốn gặp chú để khất nợ thôi.
          Hải bỗng giật mình đúng phắt ngay lên, trong lúc vội vã không hề chuẩn bị, chàng không biết đến mảnh ván đã nghiêng, giờ đổ xuống kéo theo chàng và mấy củ khoai văng ra lăn lóc dưới nền nhà.

          Tôi không còn yên lặng thêm đựơc nữa, nước mắt chảy ra ràn rụa tự bao giờ. Tôi chạy đến ôm chầm lấy Hải, đỡ chàng lên, kéo đầu chàng sát vào ngực mình nói trong thổn thức.
           - Anh Hải ơi, em đây, Ngọc đây. Ngọc ngày xưa của anh đây. Sao anh khổ thế này?
          Chúng tôi ôm lấy nhau không biết là bao lâu nữa. Thời gian nào có nghiã gì đâu cho những kẻ yêu nhau. Chúng tôi ngày xưa đã có cả một giòng sông mộng mơ, mà cuộc đời này đã làm khô cạn bởi những toan tính tham lam, hèn yếu. Phút giây bàng hoàng đã qua đi tôi hỏi Hải.
          - Sao anh không làm đơn ra đi như bao nhiêu người khác cho cuộc đởi đỡ khổ?
          Hải đưa bàn tay chai đá sờ soạng vuốt tóc tôi, trầm ngâm trong giây lát, trả lời.
          - Sao em lại nghĩ rằng anh đang khổ sở. Anh thua trận, anh mất đi đất nước thì dĩ nhiên là anh đã mất tất cả rồi. Đến cả ngay cái cuộc sống anh đây cũng tùy thuộc trong tay kẻ thù. Chúng nó cho đi thì được đi, bắt phải ở là ở lại. Chúng anh có quyết định đươc gì đâu. Cho dù ở lại đây hay sang bên ấy chúng anh chỉ là những người có cuộc sống thừa. Sống mà như đã chết.


          Chỉ có một cách là phải khôi phục lại giang sơn đất nước xưa thì mới sống đựơc chính cuộc sống mình mong muốn. Thế mà ai cũng sang bên ấy cả thì còn ai đấu tranh để mong một ngày kia khôi phục lại giang sơn. Còn sướng hay khổ thì thật là tương đối, tùy theo ý nghĩ của mỗi con người. Đâu cứ phải là có miếng ăn ngon hằng ngày, chăn nệm ấm êm mỗi tối mới là sung sướng. Niềm sung sướng hạnh phúc cuả anh là được sống theo lý tưởng, theo ý muốn của mình, được nhìn thấy muôn người ấm no, hạnh phúc.
          - Em thấy bây giờ người ta cũng đổi thay nhiều lắm, cũng tự do đi lại buôn bán sầm uất hơn xưa. Thôi anh ạ, cả đời anh hy sinh cho đất nước, bây giờ anh nên nghĩ đến thân anh.
          Hải mỉm cười khoan dung.
          - Ngọc ạ, em lúc nào cũng đáng yêu làm anh không bao giờ quên em hay giận em cho được. Nhưng em thử nhìn lại mà coi, cái phồn vinh giàu có của đất nước mình chỉ nằm trong tay của nhóm người cai trị, ở một vài thành phố lớn, còn đại đa số dân lành thì cuộc sống như anh đây và bà cụ hàng xóm kia, ăn họ ban phát cho, nói theo lời của họ. Muốn có ý kiến hay đời sống riêng tư thì đi cải tạo. 


          Những cao ốc những nhà hàng sang trọng mọc lên chỉ để cho những người Cộng Sản đang nắm quyền và những người ngoại kiều như em chứ có dành cho dân chúng đâu. Người Cộng Sản khôn lanh quỷ quyệt, khi mà chính quyền nằm ttrong tay của họ thì ta không thể kêu gào xuông mà đòi lại đựơc mà phải bằng những hành động đấu tranh quyết liệt. Nếu ai cũng ra đi thì lấy ai trực diện với kẻ thù. Anh vẫn biết một con én không làm nổi mùa xuân nhưng có con chim én cũng cho người ta hy vọng rằng mùa xuân sẽ đến.
          Hải ngừng nói, ôm lấy tôi chặt hơn, tiếng chàng thì thầm bên tai tôi.
          - Còn em, em là mùa xuân của riêng anh. Em đang giữ của anh cả tuổi thanh xuân, chúng ta đã có chung một giòng sông ước mơ trong dĩ vãng. Cho dù không được sống bên nhau nhưng trong bất cứ lúc nào cô đơn buồn chán nhất ở cuộc đời nầy anh đều nghĩ đến em, và tưởng như có em bên cạnh.
          Đêm xuống tận bao giờ. Tôi rung động theo từng tiếng thì thầm êm đềm của Hải. Chàng lúc nào cũng đại lượng khoan dung, cho dù là với một người phản bôi như tôi. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau quên đi cả cái lạnh của Đà lạt và không cần nghĩ đến thời gian.
          Đột nhiên tôi nghe tiếng ôn ào rồi những buớc chân vội vã. Chúng tôi hốt hoảng buông nhau ra khi thấy nhưng người công an Cộng sản ào vào như cơn lốc. Hai người lăm lăm chiã súng vào mặt Hải. Người thứ ba - có lẽ là cấp chỉ huy  - trong bọn chửi thề
          - Mẹ bố thằng này, gớm thật, mới vừa mới gọi lên làm việc cho về là liên lạc ngay với người nước ngoài.
          Nói xong hắn ta gật đầu ra lệnh. Hai thằng công an xông tới dùng báng súng đánh tớt tấp lên đầu lên cổ Hải. Chàng loạng quạng bước đựơc vài giây rồi gục ngay xuống. Một giòng máu đỏ từ đầu chảy xuống. Tôi rú lên khiếp sợ hãi hùng. Trong cơn mê sảng tôi còn nghe thấy tiếng la hét của ngừơi chỉ huy.
          - Lôi cổ nó về đồn còng tay nó lại.

          …Rất lâu tôi tỉnh lại, ngạc nhiên thấy mình đang nằm trên giường nệm ấm êm của khách sạn. Đêm đã khuya lắm rồì, căn phòng tối om như điạ ngục đang vây phủ thân hình tôi. Tôi nhớ lại những gì đã xẩy ra trong buổi chiều. Hình ảnh Hải mù loà, lăn lộn dưới chân hai thằng công an mặt đằng đằng sát khí làm tôi kinh hoàng và hối hận. Trời ơi tôi chỉ đem đến cho cuộc đời Hải những tai họa, khổ đau và bất hạnh.
           Đêm đen tối quá, đêm dài tận cùng như đêm không bao giờ sáng. Tôi sờ soạng chung quanh không thấy Thức đâu. Bao nhiêu câu hỏi chợt đến với tôi. Ai đã mang tôi về đến khách san và giờ này Thức còn đi đâu mà không về ngủ. Tôi chỉ mong trời sáng để biết tin Hải sống chết ra sao, để giải tỏa những thắc mắc đang vướng bận trong lòng.
          Bỗng tôi chợt nghe có tiếng người nói lao xao ngoài cửa. Trời đã khuya mà ai còn đang thức giờ này.Tôi rón rén bước ra kinh sợ thấy tên trùm công an đã nhìn tôi hau hau lúc ban trưa đang nói gì với Thức. Hắn bỗng cười lên ha hả.
          - Ông tính mười mấy báng súng mà nện vào đầu thì làm sao sống nổi. Những thằng hèn nhát thì đã trốn đi hoặc là chúng tôi cho sang hết cả bên ấy rồi, còn nhưng thằng cứng đầu như thằng Hải này thì cho nó về âm phủ mà đòi tự do dân chủ.
          Tôi lặng người ghê sợ không dám nói một lời nào. Tôi sợ chồng tôi. Tôi sợ hãi cái độc ác của lòng người. Tôi sợ hãi cuộc đời còn lại mà tôi phải sống. Tôi sợ hãi đêm dài đang bao phủ Việt Nam. Hôm sau tôi vội vã rời xa Đà Lạt.
          Khi xe gập ghềnh qua thác Preen, tôi nhìn con nước lững lờ trôi mà khóc thương cho một dòng sông. Khóc một dòng sông




.